MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Tổng quan về bệnh lý vận động và tiểu não

Theo

Hector A. Gonzalez-Usigli

, MD, HE UMAE Centro Médico Nacional de Occidente

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg2 2017
Nguồn chủ đề

Vận động tự chủ đòi hỏi sự tương tác phức tạp của bó vỏ tủy (bó tháp), hạch nền và tiểu não (trung tâm phối hợp vận động) để đảm bảo chuyển động nhịp nhàng, có mục đích mà không có sự co cơ ngoại lai.

Bó tháp đi qua hành tủy để dẫn truyền thông tin tới các trung tâm vận động thấp hơn của thân não và tủy sống.

Các hạch nền (nhân đuôi, nhân bèo sẫm,nhân cầu nhạt, nhân dưới đồi, liềm đen) hình thành nên hệ ngoại tháp. Chúng nằm sâu trong não trước và hướng qua đồi thị đến vỏ não

Hầu hết các tổn thương thần kinh gây rối loạn vận động xảy ra trong hệ thống ngoại tháp; do đó, rối loạn về vận động đôi khi được gọi là rối loạn ngoại tháp.

Hạch nền

Hạch nền

Phân loại

Rối loạn vận động thường được phân loại thành

  • Giảm hoặc chậm vận động (rối loạn giảm động)

  • Tăng vận động (rối loạn tăng động)

Các rối loạn giảm động kinh điển và phổ biến nhất

Rối loạn tăng động gồm

Tuy nhiên, phân loại này không giải thích cho sự chồng lấp giữa các phân loại (ví dụ như các cơn run trong bệnh Parkinson).

Rối loạn tăng động

  • Nhịp điệu

  • Không nhịp điệu

Rối loạn nhịp điệu chủ yếu là run - các vận động xảy ra thường xuyên, mang tính chất luân phiên hoặc dao động, có thể xảy ra chủ yếu khi nghỉ, khi duy trì tư thế, và/hoặc khi cố gắng di chuyển. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, run lại không đều, dù có nhịp điệu, ví dụ như khi run liên quan đến rối loạn trương lực cơ.

Rối loạn tăng động không nhịp điệu có thể

  • Chậm (ví dụ, múa vờn)

  • Duy trì (ví dụ, loạn trương lực)

  • Nhanh (ví dụ, giật cơ, múa giật, tics, múa vung nửa người)

Rối loạn tăng động nhanh có thể

  • Có thể dừng được (ví dụ, tics)

  • Không thể dừng được (ví dụ, múa vung nửa người, múa giật, giật cơ)

Múa vờn và múa giật có thể xảy ra cùng nhau ở dạng múa giật vờn Múa giật là rối loạn vận động đặc trưng nhất trong bệnh Huntington.

Tics đa động và tics âm là đặc điểm của hội chứng Tourette.

Phân loại của rối loạn tăng động phổ biến.

Phân loại của rối loạn tăng động phổ biến.
Bảng
icon

Rối loạn tăng động

Bất thường vận động

Nguyên nhân

Mô tả

Ma túy (ví dụ, cocaine, amphetamine, thuốc chống loạn thần)

Vận động không nhịp nhàng, chậm chạp, quằn quại, và uốn lượn, chủ yếu ở các ngọn chi; thay đổi tư thế của gốc chi thường xảy ra liên tục để sinh ra các dòng vận động

Múa vờn có các đặc điểm của loạn trương lực và múa giật, thường xảy ra với múa giật như múa giật vờn.

bệnh Huntington, cường giáp, suy cận giáp, hội chứng cận u, SLE ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (CNS), các bệnh lý tự miễn khác, sốt thấp, khối u hoặc nhồi máu nhân đuôi hoặc nhân bèo sẫm

Mang thai, thường ở những phụ nữ bị sốt thấp

Thuốc có thể gây ra chứng múa giật (ví dụ levodopa, phenytoin, cocaine, thuốc tránh thai đường uống)

Các loại thuốc rối loạn vận động tác dụng chậm (như thuốc chống loạn thần)

Vận động không nhịp nhàng, giật cục, nhanh và không thể dừng được, chủ yếu ở các ngọn chi hoặc trên mặt.

Đôi khi các vận động bất thường kết hợp cùng các hành động bán chủ ý làm lu mờ các vận động không tự chủ

Múa giật thường kết hợp cùng múa vờn tạo thành biểu hiện múa giật-múa vờn.

Loạn trương lực

Nguyên phát (tự phát)

Bệnh lý thoái hóa hoặc chuyển hóa (ví dụ, Bệnh Wilson, PKAN do đột biến PANK2 [trước đây, là bệnh Hallervorden-Spatz], đốm lipid khác nhau, đa xơ cứng MS, bại não, đột quỵ, thiếu ô xy não)

Thuốc chẹn thụ thể dopamine, thường là thuốc chống loạn thần (ví dụ, phenothiazines, thioxanthenes, butyrophenones) hoặc thuốc chống nôn

Các cơn co cơ kéo dài thường vặn méo tư thế của cơ thể hoặc gây xoắn, các cử động lặp đi lặp lại.

Tổn thương (thường là do đột quỵ) trong nhân dưới đồi đối bên hoặc trong các đường nối ly tâm hoặc hướng tâm

Vận động không nhịp nhàng, nhanh, không dừng được, vung vẩy và bạo lực.

Nhiều nguyên nhân

Xẩy ra giật nhanh và mạnh, không dừng được, giống sốc; chúng có thể là cục bộ, theo tiết đoạn hoặc toàn thân.

Tics

Nguyên phát: hội chứng Tourette

Thứ phát Bệnh Huntington, bệnh tế bào gai thần kinh, PKAN, nhiễm trùng, đột quỵ, ma túy (ví dụ methylphenidate, cocaine, amphetamines, thuốc kháng dopamin [có thể gây loạn vận động muộn]

Vận động không nhịp nhàng, khuôn mẫu, nhanh chóng và lặp đi lặp lại; đặc biệt, bệnh nhân có cảm giác hối thúc hành động như vậy và cảm thấy nhẹ nhõm sau khi hoàn thành.

Tics có thể bị trấn áp chỉ trong một thời gian ngắn và với những nỗ lực có ý thức.

Tics có thể là vận động hoặc phát âm; chúng có thể đơn giản (ví dụ: nháy mắt, gầm gừ, hắng giọng) hoặc phức tạp (ví dụ như nhún vai, đung đưa cánh tay, hét lên các từ hoặc câu, kể cả những lời tục tĩu).

Run

Run vô căn

Bệnh Wilson

Một số loại thuốc (ví dụ, lithium, valproate, olanzapine, thuốc chống loạn thần điển hình và không điển hình khác -xem Bảng: Điều trị)

Vận động đều, nhịp nhàng và dao động.

PKAN = thoái hóa thần kinh liên quan đến kinase pantothenate.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG