MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Múa giật, múa vờn, múa vung nửa người

Theo

Hector A. Gonzalez-Usigli

, MD, HE UMAE Centro Médico Nacional de Occidente

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg2 2017

Múa giật là một vận động không tự chủ, không nhịp nhàng, giật, nhanh, không dừng được, chủ yếu ở cơ ngọn chi hoặc mặt; các vận động có thể kết hợp với hành động bán chủ ý làm lu mờ các vận động không tự chủ. Múa vung (múa giật chậm) là vận động không nhịp nhàng, chậm, quằn quại, vặn vẹo, chủ yếu ở các cơ ngọn chi, thường luân phiên tư thế của gốc chi. Bệnh múa vung nửa người là vận động gốc chi trên/dưới nhanh không đối xứng, không nhịp nhàng, không dừng được, đung đưa vô thức; hiếm khi đối xứng (múa vung toàn thân) Múa vung nửa người có thể được coi là một dạng múa giật nghiêm trọng

Múa giật và múa vờn được xác định qua biểu hiện lâm sàng; nhiều chuyên gia tin rằng khi chúng xuất hiện cùng nhau tạo thành biểu hiện múa giật-múa vờn, múa vờn là một chứng loạn trương lực trên nền múa giật. Múa giật và múa vờn là kết quả của việc ức chế nơ ron võ não-đồi thị bởi các hạch nền. Cơ chế có thể do sự hoạt động quá mức hệ dopaminergic.

Các bác sĩ lâm sàng nên tìm và điều trị nguyên nhân gây múa giật bất cứ khi nào có thể.

Bệnh Huntington là bệnh lý thoái hóa phổ biến nhất gây ra múa giật. Trong bệnh Huntington, thuốc ức chế hoạt động của hệ dopaminergic, chẳng hạn như thuốc chống loạn thần (ví dụ risperidone, olanzapine) và thuốc kháng dopamine (ví dụ, reserpine, tetrabenazine) có thể được sử dụng để điều trị múa giật. Thuốc chống loạn thần cũng có thể giúp giảm các triệu chứng thần kinh tâm thần thường gặp liên quan đến bệnh Huntington (ví dụ như sự bốc đồng, lo lắng, hành vi tâm thần). Tuy nhiên, cải thiện thường hạn chế và thoáng qua. Những loại thuốc này có thể được sử dụng một cách thận trọng để điều trị múa giật chưa rõ nguyên nhân.

Nguyên nhân khác của múa giật bao gồm

Múa giật Sydenham (Chorea Sydenham) có sốt nhẹ có thể là triệu chứng đầu tiên của bệnh này. U hoặc nhồi máu thể vân (nhân đuôi hoặc nhân bèo sẫm) có thể gây ra múa giật bán thân (hemichorea). Múa giật Sydenham và múa giật do nhồi máu nhân đuôi thường giảm đi theo thời gian mà không cần điều trị.

Múa giật do cường giáp hoặc một nguyên nhân chuyển khóa khác (ví dụ, tăng đường huyết) thường giảm khi chức năng tuyến giáp hoặc mức đường huyết được bình thường hóa.

Múa giật ở bệnh nhân> 60 nên được đánh giá kỹ lưỡng để xác định nguyên nhân (như độc tố, chuyển hóa, tự miễn dịch, cận u).

Múa giật thai kì xảy ra trong thời kỳ mang thai, thường ở những bệnh nhân bị sốt thấp khớp. Múa giật thường bắt đầu trong quý đầu và tự hết ngẫu nhiên hoặc sau khi sinh. Nếu cần điều trị trước sinh do múa giật nặng, barbiturates được chỉ định bởi chúng có ít nguy cơ với thai nhi hơn so với các thuốc khác dùng để kiểm soát múa giật. Trong một số hiếm các trường hợp, bệnh lý tương tự có thể xuất hiện ở phụ nữ dùng thuốc tránh thai đường uống.

Múa vung bán thân (Hemiballismus) gây ra do tổn thương đơn độc, thường do nhồi máu, trong hoặc xung quanh nhân dưới đồi đối bên Mặc dù có thể gây tàn tật, múa vung bán thân thường có tính khu trú, kéo dài 6-8 tuần. Nếu múa vung nặng, có thể điều trị bằng thuốc chống loạn thần từ 1 đến 2 tháng.

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG