MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Bệnh lý dây thần kinh số III

Theo

Michael Rubin

, MDCM, Weill Cornell Medical College

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg11 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg12 2017

Bệnh lý dây thần kinh số III có thể làm giảm khả năng vận nhãn, chức năng đồng tử, hoặc cả hai. Các triệu chứng cơ năng và thực thể bao gồm nhìn đôi, sụp mi, liệt liếc trong, lên và xuống. Nếu đồng tử bị ảnh hưởng, nó thường giãn, phản xạ ánh sáng yếu. Nếu đồng tử bị ảnh hưởng hoặc bệnh nhân ngày càng không đáp ứng, chẩn đoán hình ảnh thần kinh nên được thực hiện càng sớm càng tốt.

Nguyên nhân

Bệnh lý dây III ( dây vận nhãn) gây liệt vận nhãn và bất thường đồng tử thường có nguyên nhân là

  • Phình mạch (đặc biệt là động mạch thông sau)

  • Ít phổ biến, viêm màng não ảnh hưởng đến thân não (ví dụ, viêm màng não lao)

Nguyên nhân phổ biến nhất của liệt không ảnh hưởng đến đông tử, đặc biệt là liệt không hoàn toàn, là

  • Thiếu máu cục bộ dây III (thường do đái tháo đường hoặc tăng huyết áp), hoặc của não giữa

Đôi khi, phình động mạch thông sau sau gây ra chứng liệt không ảnh hưởng đồng tử.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Các triệu chứng nhìn đôi và sụp mi xuất hiện. Mắt có thể hơi lệch ra ngoài và xuống dưới khi nhìn thẳng; liếc trong chậm và liếc trong vượt quá đường giữa. Giảm khả năng liếc lên trên. Khi định liếc xuống, cơ chéo trên khiến mắt xoay và liếc trong nhẹ.

Đồng tử có thể bình thường hoặc giãn; phản xạ ánh sáng trực tiếp hoặc liên hợp chậm hoặc biến mất hoàn toàn (khiếm khuyết ly tâm). Giãn đồng tử có thể là dấu hiệu sớm.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

  • CT hoặc MRI

Chẩn đoán phân biệt bao gồm

  • Các tổn thương trung não gây tổn thương dây vận nhãn (hội chứng Claude, hội chứng Benedict)

  • Khối u hoặc nhiễm trùng màng mềm

  • Bệnh xoang hang ổ (phình động mạch cảnh, rò mạch, hoặc huyết khối)

  • Các tổn thương cấu trúc nội nhãn (ví dụ, nấm Muco trong ổ mắt) làm giới hạn khả năng vận nhãn

  • Bệnh lý cơ vận nhãn (ví dụ, do cường giáp hoặc bệnh lý ty lạp thể)

  • Bệnh lý synap thần kinh cơ (ví dụ, do nhược cơ hoặc ngộ độc botulium)

Chẩn đoán phân biệt có thể dựa trên lâm sàng. Lồi mắt hoặc lõm mắt, có tiền sử chấn thương ổ mắt nặng, hoặc tiền sử viêm ổ mắt rõ ràng cho thấy một bệnh lý cấu trúc nội nhãn. Cân nhắc chẩn đoán Basedow ở những bệnh nhân liệt vận nhãn 2 bên, giảm khả năng liếc lên hoặc liếc ngoài, lồi mắt, co cơ mi, giật mi khi nhìn xuống (dấu hiệu Graefe) và đồng tử bình thường.

CT hoặc MRI là bắt buộc. Nếu bệnh nhân có một đông tử giãn đột ngột và đau đầu nhiều (gợi ý vỡ phình mạch) hoặc tri giác ngày càng xấu đi (gợi ý thoát vị), nên chụp CT ngay lập tức. Nếu nghi ngờ phình mạch vỡ và CT (hoặc MRI) không cho thấy hình ảnh xuất huyết hoặc không có sẵn, cần chỉ định các xét nghiệm khác như chọc dịch não tủy, chụp cộng hưởng từ, chụp mạch não CT, hoặc chụp mạch não. Cần chụp MRI ngay lập tức nếu nghĩ đến chẩn đoán bệnh lý xoang hang và nấm Muco ổ mắt để điều trị kịp thời.

Điều trị

  • Khác nhau, tùy thuộc vào nguyên nhân

Điều trị bệnh lý dây III phụ thuộc vào nguyên nhân.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG