MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Đau dây V

(Tic Douloureux)

Theo

Michael Rubin

, MDCM, Weill Cornell Medical College

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg11 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg12 2017
Nguồn chủ đề

Đau dây V thường biểu hiện đau kịch phát nặng, đau nhói mặt do bệnh lý dây thần kinh số V. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng. Điều trị thường là với carbamazepine hoặc gabapentin; đôi khi cần phẫu thuật.

Đau dây V hưởng chủ yếu là người lớn, đặc biệt là người cao tuổi.

Nguyên nhân

Đau dây V thường do nguyên nhân chèn ép từ:

  • Động mạch nội sọ (ví dụ, động mạch tiểu não trước dưới, động mạch sống nền)

  • Ít gặp hơn, vòng tĩnh mạch gây chèn ép dây thần kinh số V (vùng hạch sinh ba) tại rễ thoát ra của dây V vào thân não

Các nguyên nhân ít phổ biến hơn bao gồm chèn ép bởi khối u và đôi khi do mảng đa xơ cứng bám trên thành rễ thoát ra của dây V, nhưng những nguyên nhân này thường được chẩn đoán phân biệt bằng các rối loạn cảm giác và các triệu chứng khác.

Các bệnh lý khác gây ra các triệu chứng tương tự (ví dụ, xơ cứng rải rác) đôi khi được coi là đau dây V và đôi khi không. Chẩn đoán nguyên nhân là điều quan trọng.

Cơ chế gây bệnh không rõ ràng. Một giả thuyết cho thấy việc chèn ép dây thần kinh gây ra thoái hóa myelin cục bộ, có thể dẫn đến việc tạo ra xung ngoại lai và/hoặc thoát ức chế các đường dẫn truyền cảm giác đau trung tâm liên quan đến nhân dây V tủy sống.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Đau xảy ra dọc theo phân bố của một hoặc nhiều phân nhánh cảm giác của dây V, thường là nhánh hàm trên. Đau mang tính chất kịch phát, kéo dài vài giây đến 2 phút, nhưng các cơn đau có thể tái phát nhanh. Đau nhói, dội lên, và đôi khi tự hết. Đau thường giảm bớt bằng cách kích thích vào vị trí kích phát trên mặt (bằng cách nhai, đánh răng, hoặc mỉm cười). Thông thường, bệnh nhân không thể ngủ nghiêng mặt về bên đau.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

Các triệu chứng của đau dây V gần như mang tính đặc trưng khá cao. Do đó, một số bệnh lý khác gây đau mặt có thể được phân biệt trên lâm sàng:

  • Đau nửa đầu mãn tính (hội chứng Sjaastad) được phân biệt bằng các cơn đau kéo dài (5 đến 8 phút) và đáp ứng tốt với indomethacin.

  • Đau sau Herpes được phân biệt dựa vào đặc tính diễn biến liên tục (không có cơn kịch phát), tổn thương phát ban điển hình, sẹo, và thường gây bệnh tại các thành phần thị giác.

  • Đau đầu migraine, có thể gây đau mặt không điển hình, được phân biệt bởi cơn đau kéo dài hơn và thường đau kiểu nhức nhối.

Khám thần kinh bình thường trong đau dây V. Do đó, các triệu chứng thần kinh (như mất cảm giác trên mặt) cho thấy cơn đau giống như đau dây V là do bệnh lý khác (ví dụ khối u, đột quỵ, mảng xơ cứng rải rác, dị dạng mạch máu, các tổn thương khác làm chèn ép dây V hoặc cản trở đường dẫn truyền tới thân não).

Điều trị

  • Thường sử dụng các thuốc chống động kinh

Carbamazepine đường uống 200 mg/lần x 3-4 lần/ngày thường có hiệu quả trong thời gian dài; liều khởi phát là 100 mg/lần x 2 lần/ngày, tăng liều từ 100 đến 200 mg/ngày cho đến khi kiểm soát đượccơn đau (liều tối đa hàng ngày 1200 mg). Nếu carbamazepine không có hiệu quả hoặc có tác dụng phụ, điều trị thay thế bằng:

  • Oxcarbazepine 150 đến 300 mg/lần x 2 lần/ngày

  • Gabapentin 300 đến 600 mg/lần x 3 lần/ngày (300mg uống 1 lần duy nhất vào ngày 1, 300 mg/lần x 2 lần/ngày vào ngày thứ 2, 300 mg/lần x 3 lần/ngày vào ngày thứ 3, sau đó tăng liều tối đa lên tới 1200 mg/lần x 3 lần/ngày)

  • Phenytoin 100 đến 200 mg/lần x 2 lần/ngày (bắt đầu với liều 100 mg/lần x 1 lần/ngày, sau đó tăng lên nếu cần)

  • Baclofen 10 đến 30 mg/lần x 3 lần/ngày (bắt đầu từ 5 đến 10 mg/lần x 3 lần/ngày, sau đó tăng liều khoảng 5 mg/ngày)

  • Amitriptyline 25 đến 150 mg uống khi đi ngủ (bắt đầu với 25 mg, sau đó tăng 25 mg mỗi tuần nếu cần)

Các thuốc phong bế thần kinh ngoại vi giúp giảm nhẹ triệu chứng tạm thời.

Nếu vẫn còn đau nhiều mặc dù đã sử dụng các phương phá trên, cân nhắc thủ thuật cắt bỏ dây thần kinh; tuy nhiên, hiệu quả có thể chỉ là là tạm thời, và các cơn đau tái phát có thể trầm trọng hơn trước khi bệnh nhân có được sự cải thiện thực sự. Trong phẫu thuật mở sọ sau, có thể đặt một miếng nhỏ để phân tách vòng mạch tuần hoàn rung động từ gốc dây V (kỹ thuật giải nén vi mạch, hoặc phẫu thuật Jannetta). Trong xạ phẫu, dao gamma có thể được sử dụng để cắt dây V phía trung tâm. Có thể gây tổn thương điện hoặc hoá chất hoặc chèn bóng hạch sinh ba thông qua luồn kim qua da có định vị. Đôi khi, có thể tiến hành cắt bỏ các nhánh dây V giữa hạch sinh ba và thân não.

Hủy dây V toàn bộ đôi khi được sử dụng như phương án cuối cùng trong các trường hợp đau dây V tái phát kháng trị.

Giải ép vi mạch.

Giải ép vi mạch có thể giúp giảm đau trong trường hợp có sự chèn ép mạch các dây thần kinh sọ (đau dây thần kinh sinh ba, co cơ nửa mặt, hoặc đau dây IX). Đối với đau dây V, áp lực được giảm bớt bằng cách đặt một miếng bọt biển giữa dây V và động mạch chèn ép (thủ thuật Jannetta). Thông thường, thủ thuật này làm giảm đau, nhưng ở khoảng 15% bệnh nhân, đau sẽ tái diễn

Giải ép vi mạch.
Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG