MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Viêm tủy ngang cấp

Theo

Michael Rubin

, MDCM, Weill Cornell Medical College

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg10 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2016

Viêm tủy ngang cấp là tình trạng viêm cấp ở chất xám và trắng trong một hoặc nhiều đoạn tủy sống liền kề, thường là đoạn tủy ngực. Các nguyên nhân bao gồm xơ cứng rải rác, viêm tủy thị thần kinh, nhiễm trùng, bệnh lý tự miễn dịch hoặc hậu nhiễm trùng, viêm mạch và một số loại thuốc nhất định. Các triệu chứng bao gồm thiếu hụt vận động, cảm giác, và thăng bằng hai bên dưới mức tổn thương. Chẩn đoán thường dựa vào MRI, dịch não tủy và xét nghiệm máu. Corticosteroids đường tĩnh mạch và trao đổi huyết tương có thể hữu ích trong giai đoạn sớm. Nếu không, điều trị bằng các biện pháp hỗ trợ và điều trị bệnh lý căn nguyên.

Viêm tủy ngang cấp thường gặp nhất do xơ cứng rải rác, nhưng cũng có thể do viêm mạch, nhiễm trùng mycoplasmal, bệnh Lyme, giang mai, lao, viêm màng não do virus hoặc ở bệnh nhân dùng amphetamines, heroin đường tĩnh mạch, hoặc thuốc chống sốt rét hoặc thuốc chống nấm. Viêm tủy ngang đi kèm viêm dây thần kinh thị giác hay gặp trong viêm tủy thị thần kinh (bệnh Devic), từng được coi là một biến thể của xơ cứng rải rác, nhưng hiện nay được coi là một bệnh lý riêng biệt.

Cơ chế của bệnh viêm tủy ngang thường không rõ ràng, nhưng một số trường hợp diễn biến sau nhiễm virus hoặc tiêm chủng, gợi ý cơ chế tự miễn. Viêm thường có xu hướng lan tỏa tại một hoặc nhiều mức tủy, ảnh hưởng đến tất cả các chức năng tủy sống.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Bệnh nhân có thể có các biểu hiện đau cổ, lưng, hoặc đau đầu. Bệnh nhân có cảm giác đè nặng, ép chặt tại vùng ngực hoặc bụng, kèm theo yếu, tê và cảm giác kiến bò tại bàn chân và cẳng chân. Triệu chứng tiểu khó hết bãi xuất hiện trong vòng từ vài giờ đến vài ngày. Các thiếu hụt thần kinh có thể tiến triển trong một vài ngày trước khi đạt tình trạng rối loạn vận động cảm giác cắt ngang hoàn toàn, gây liệt, mất cảm giác dưới mức tổn thương, rối loạn cơ tròn. Đôi khi, bệnh nhân không có rối loạn cảm giác tư thế và cảm giác rung.

Hội chứng này đôi khi tái phát ở bệnh nhân xơ cứng rải rác, SLE, hoặc hội chứng kháng phospholipid.

Chẩn đoán

  • MRI và dịch não tủy

  • Các xét nghiệm khác để chẩn đoán nguyên nhân có thể điều trị được

Dấu hiệu tổn thương vận động cảm giác cắt ngang phân bố theo tiết đoạn thần kinh gợi ý chẩn đoán viêm tủy ngang cấp Có thể phân biệt rõ với hội chứng Guillain Barre bởi hội chứng này không phân bố theo các tiết đoạn thần kinh.

Chẩn đoán đòi hỏi chụp MRI và làm xét nghiệm dịch não tủy. MRI thường biểu hiện phù nề tủy sống nếu có viêm tủy ngang, đồng thời có thể giúp loại trừ các nguyên nhân khác có thể điều trị được của rối loạn chức năng tủy sống (như chèn ép tủy). Dịch não tủy thường chứa bạch cầu đơn nhân, lượng protein tăng nhẹ và chỉ số IgG cao (bình thường, 0.85).

Xét nghiệm marker cho bệnh lý viêm tủy thị thần kinh (NMO-IgG) - một kháng thể nhắm đích đến kênh protein astrocyte aquaporin-4. Đây là xét nghiệm có độ đặc hiệu cao và giúp phân biệt viêm tủy thị thần kinh với xơ cứng rải rác.

Các xét nghiệm về các bệnh lý căn nguyên bao gồm chụp X-quang ngực; PPD; xét nghiệm máu tìm mycoplasma, bệnh Lyme, HIV; định lượng vitamin B12, folate, kẽm và đồng; máu lắng; kháng thể kháng nhân; xét nghiệm dịch não tủy và xét nghiệm máu tìm kháng thể giang mai. Khai thác tiền sử có thể gợi ý đến nguyên nhân gây bệnh do thuốc

Tiến hành chụp MRI sọ não; xơ cứng rải rác xuất hiện ở 50% bệnh nhân có nhiều tổn thương tăng tín hiệu quanh mạch thì T2 và ở 5% bệnh nhân không có dấu hiệu này.

Tiên lượng

Nhìn chung, bệnh tiến triển càng nhanh, tiên lượng càng nặng. Triệu chứng đau gợi ý tình trạng viêm nhiều. Khoảng 1/3 bệnh nhân hồi phục, một phần ba vẫn còn liệt và rối loạn tiểu tiện, và một phần ba còn lại bất động tại giường và tiểu không tự chủ.

Xơ cứng rải rác xuất hiện và tiến triển ở khoảng từ 10 đến 20% số bệnh nhân, nguyên nhân ban đầu không rõ ràng.

Điều trị

  • Điều trị nguyên nhân

  • Đôi khi sử dụng corticosteroid

Trong điều trị viêm tủy ngang cấp, ngoài điều trị hỗ trợ, điều trị trực tiếp vào nguyên nhân gây bệnh hoặc bệnh lý kèm theo.

Trong các trường hợp nguyên phát phát, corticosteroid liều cao thường được sử dụng và đôi khi sử dụng cả biện pháp trao đổi huyết tương, bởi bệnh có thể do nguyên nhân tự miễn gây ra. Phác đồ này không đảm bảo hiệu quả chắc chắn.

Những điểm chính

  • Các bệnh lý tự miễn, hủy myelin, nhiễm trùng, và thuốc có thể gây viêm tới các mô ở các phân đoạn tủy sống và gây viêm tủy ngang, có thể tiến triển thành bệnh lý thần kinh cảm giác tủy ngang.

  • MRI tủy sống, xét nghiệm dịch não tủy, xét nghiệm đối kháng thể IgG viêm tủy thần kinh thị, và các xét nghiệm khác tìm các nguyên nhân có thể điều trị được (ví dụ: nhiễm trùng, thiếu hụt dinh dưỡng).

  • Điều trị nguyên nhân nếu có, và nếu không có nguyên nhân rõ ràng, sử dụng corticosteroid và trao đổi huyết tương.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG