MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Đau mạn tính

Theo

John Markman

, MD, University of Rochester School of Medicine and Dentistry;


Sri Kamesh Narasimhan

, PhD, University of Rochester

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg4 2014| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg4 2014

(Xem thêm Đau xơ cơ.)

Đau mạn tính là đau kéo dài hoặc tái phát > 3 tháng, kéo dài> 1 tháng sau khi đã giải quyết tình trạng tổn thương mô cấp tính, hoặc kèm theo các thương tổn không lành. Nguyên nhân bao gồm các bệnh lý mạn tính (như ung thư, viêm khớp, đái tháo đường), chấn thương (ví dụ: thoát vị đĩa đệm, rách dây chằng) và nhiều căn nguyên gây bệnh lý đau khác (ví dụ đau nguyên nhân thần kinh, đau cơ xơ hóa, đau đầu mạn tính). Dùng các loại thuốc khác nhau cũng như các phương pháp điều trị tâm lý.

Các bệnh lý mạn tính, (ví dụ ung thư, viêm khớp dạng thấp, thoát vị đĩa đệm) tạo ra các kích thích liên tục lên thụ cảm giải thích cho đau mạn tính. Ngoài ra, thương tổn, thậm chí với tổn thương nhẹ, có thể dẫn đến những thay đổi kéo dài (sự nhạy cảm) trong hệ thống thần kinh - từ các thụ thể ngoại biên đến vỏ não - có thể gây ra đau dai dẳng mặc dù không có các kích thích tiếp tục lên thụ cảm(receptor). Sự nhạy cảm, cảm giác khó chịu do một bệnh lý đã được điều trị gần như khỏi có thể coi là nhẹ hoặc bình thường thay vì được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến đau. Các yếu tố tâm lý cũng có thể làm khuếch đại tình trạng đau dai dẳng. Do đó, đau mạn tính thường xuất hiện không tương xứng với quá trình tổn thương thực thể Trong một số trường hợp (ví dụ: đau lưng mạn tính sau chấn thương), nguồn gốc của cơn đau là rõ ràng; ở những người khác (ví dụ: đau đầu đầu mạn tính, đau mặt không điển hình, đau bụng mạn tính), nguồn gốc gây ra là mơ hồ hoặc che lấp.

Ở hầu hết các bệnh nhân, không thể phủ nhận quá trình vật lý trị liệu là điểm tựa trong điều trị đau mạn tính và đôi khi là thành phần chính (ví dụ trong điều trị đau do ung thư) Tuy nhiên, thậm chí ở những bệnh nhân này, các yếu tố tâm lý cũng thường đóng một vai trò nào đó. Bệnh nhân phải liên tục chứng minh rằng họ bị bệnh để có được chăm sóc y tế, bảo hiểm hoặc trợ cấp lao động có thể tăng cường nhận thức về cơn đau của họ một cách vô thức, đặc biệt khi có yếu tố kiện tụng. Phản ứng này khác với giả vờ, là sự phóng đại các triệu có ý thức để đạt lợi ích thứ cấp (ví dụ như thời gian nghỉ, bảo hiểm khuyết tật). Các yếu tố khác nhau trong môi trường của bệnh nhân (ví dụ như các thành viên trong gia đình, bạn bè) có thể củng cố các hành vi kéo dài đau mạn tính.

Đau mạn tính có thể dẫn đến hoặc làm trầm trọng thêm các vấn đề tâm thần (ví dụ: trầm cảm). Việc phân biệt giữa nguyên nhân gây tâm thần với hậu quả nó gây ra thường rất khó.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Đau mạn tính thường dẫn đến các dấu hiệu thần kinh thực vật (ví dụ như mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, ăn không ngon, mất vị thực phẩm, sút cân, giảm ham muốn tình dục, táo bón), các biểu hiện này tiến triển từ từ. Đau liên tục không thuyên giảm, có thể dẫn đến lo âu và trầm cảm, và ảnh hưởng đến hầu hết các hoạt động hàng ngày. Bệnh nhân có thể ít hoạt động, trốn tránh xã hội, lo âu về vấn đề sức khỏe. Sự suy giảm nghiêm trọng về tâm lý và xã hội có thể trở nên trầm trọng, gây ra tình trạng mất chức năng.

Một số bệnh nhân, đặc biệt là những người không có bệnh lý căn nguyên đang tiến triển rõ, có tiền sử điều trị thất bại nhiều lần với các phương pháp nội khoa lẫn ngoại khoa, các xét nghiệm chẩn đoán nhiều lần (và lặp lại), sử dụng nhiều loại thuốc (đôi khi liên quan đến lạm dụng hoặc nghiện thuốc) và thực hành không đúng cách chăm sóc sức khoẻ.

Chẩn đoán

  • Đánh giá nguyên nhân thực thể trước tiên và khi triệu chứng thay đổi

Luôn phải tìm kiếm nguyên nhân thực thể - ngay cả khi có sự đóng góp tâm lý rõ rệt tạo ra cơn đau của bệnh nhân. Cần đánh giá một cách thích hợp và đặc trưng các thương tổn thực thể liên quan đến cơn đau Tuy nhiên, một khi đã đánh giá đầy đủ, không cần lặp đi lặp lại các bài kiểm tra khi không có những phát hiện mới. Cách tiếp cận tốt nhất thường là ngừng các kiểm tra và tập trung vào việc giảm đau và phục hồi chức năng.

Cần đánh giá ảnh hưởng của đau đến cuộc sống của bệnh nhân; việc đánh giá này đôi khi cần thực hiện bởi một chuyên gia hoạt động trị liệu. Xem xét đánh giá bệnh lý tâm thần theo đúng quy trình nếu nghi ngờ có đồng thời bệnh lý tâm thần (ví dụ: trầm cảm nặng) là nguyên nhân hoặc hậu quả của đau.

Điều trị

  • Thông thường điều trị kết hợp đa phương pháp (ví dụ: giảm đau, vật lý, tâm lý trị liệu)

đặc biệt là điều trị theo nguyên nhân Điều trị sớm cơn đau cấp luôn luôn là ưu tiên và có thể hạn chế hoặc ngăn ngừa hiện tượng cảm ứng và tái tổ chức và do đó ngăn ngừa sự tiến triển đến đau mạn tính.

Có thể sử dụng thuốc hoặc phương pháp vật lý. Các liệu pháp tâm lý và thay đổi hành vi thường hữu ích. Cách tiếp cận đa ngành tại các phòng khám chuyên khoa về đau sẽ hữu ích với nhiều bệnh nhân đã có bằng chứng suy giảm chức năng hoặc không đáp ứng với nỗ lực quản lý hợp lý của bác sĩ.

Nhiều bệnh nhân thích điều trị đau tại nhà, mặc dù các cơ sở y tế có thể cung cấp các phương thức kiểm soát đau tốt hơn. Ngoài ra, kiểm soát đau có thể bị ảnh hưởng bởi thực hành thực tế ở các đơn vị chăm sóc; ví dụ như, hạn chế thời gian thăm viếng, sử dụng ti vi và radio (tạo sự phân tâm có ích cho giảm đau), và sử dụng miếng đệm sưởi ấm (vì sợ bị tổn thương do nhiệt).

Thuốc

Thuốc giảm đau bao gồm giảm đau phi steroid (NSAIDs), opioids và thuốc giảm đau bổ trợ (ví dụ thuốc chống trầm cảm, thuốc chống co giật-xem Điều trị Đau : Thuốc giảm đau bổ trợThuốc dùng cho đau nguyên nhân thần kinh). Một hoặc nhiều loại thuốc có thể thích hợp. Thuốc giảm đau bổ trợ được sử dụng phổ biến nhất cho đau nguyên nhân thần kinh. Đối với đau dai dẳng, vừa đến nặng, làm suy giảm chức năng cơ thể, nên xem xét dùng opioid sau khi xác định những điều sau:

  • điều trị thông thường hiện tại là gì

  • liệu các phương pháp điều trị khác có hợp lý

  • liệu bệnh nhân có nguy cơ cao bất thường về tác dụng phụ của opioid

  • Liệu bệnh nhân có nguy cơ sử dụng sai, chuyển hướng sử dụng, hoặc lạm dụng (hành vi bất thường do dùng thuốc)

Khi kê đơn có opioid cho đau mạn tính, bác sĩ nên thực hiện một số bước sau:

  • Giáo dục và tư vấn về việc sử dụng sai: Các chủ đề nên bao gồm các nguy cơ của việc kết hợp opioid với rượu và thuốc giảm đau, phương pháp tự chỉnh liều, và nhu cầu và cách thức bảo đảm an toàn và bảo quản thuốc. Cần hướng bệnh nhân cũng cách loại bỏ những thuốc không sử dụng nữa; hướng dẫn để không chia sẻ các thuốc opioid và nếu thấy có các triệu chứng an thần thì cần liên hệ với bác sĩ.

  • Đánh giá bệnh nhân về nguy cơ dùng sai, chuyển hướng và lạm dụng: các yếu tố nguy cơ bao gồm tiền sử hoặc hiện tại có lạm dụng rượu hoặc ma tuý, tiền sử gia đình nghiện rượu hoặc lạm dụng thuốc, và tiền sử hoặc hiện tại có bệnh lý tâm thần nặng. Sự hiện hữu của các yếu tố nguy cơ không phải lúc nào cũng là chống chỉ định sử dụng opioid. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ, nên ưu tiên chuyển bệnh nhân đến một chuyên gia kiểm soát đau, hoặc bác sĩ cần phải có các biện pháp phòng ngừa đặc biệt để ngăn ngừa việc dùng sai, chuyển hướng và lạm dụng; các biện pháp này có thể bao gồm kê đơn với một lượng nhỏ (yêu cầu phải thường xuyên đi khám lại), không kê toa lại các đơn thuốc đã bị mất và xét nghiệm thuốc qua nước tiểu để xác nhận rằng thuốc opioid được kê toa đang được dùng bởi bệnh nhân và không chuyển cho người khác sử dụng.

  • Cho bệnh nhân viết giấy chấp thuận khi có thể, giúp làm rõ mục tiêu, kỳ vọng và nguy cơ điều trị, cũng như việc sử dụng các phương pháp điều trị giảm đau thay thế không opiod.

  • Thường xuyên đánh giá lại mức độ giảm đau, cải thiện chức năng, và các tác dụng có hại, và tìm các dấu hiệu cho thấy sử dụng sai, chuyển hướng, hoặc lạm dụng.

Khi cơn đau giảm, bệnh nhân sẽ cần sự trợ giúp trong việc giảm sử dụng opioid. Nên dùng thuốc chống trầm cảm nếu đau và trầm cảm cùng tồn tại.

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân, lựa chọn phương pháp tiêm điểm đau, tiêm khớp hoặc tủy sống, phong bế thần kinh, hoặc truyền giảm đau thần kinh tùy từng trường hợp.

Vật lý trị liệu

Nhiều bệnh nhân được hưởng lợi từ các phương pháp vật lý trị liệu hoặc hoạt động trị liệu. Các thủ thuật xoa bóp và kéo giảm có thể làm giảm đau các điểm cân cơ Một số bệnh nhân cần đến bác sĩ chỉnh hình. Kích thích tủy sống có thể là lựa chọn phù hợp

Tâm lý trị liệu

Liệu pháp hành vi có thể cải thiện chức năng của bệnh nhân, thậm chí không phải giảm đau. Bệnh nhân nên giữ nhật ký về các hoạt động hàng ngày để xác định chính xác khu vực có thay đổi. Bác sĩ nên đưa ra các khuyến cáo cụ thể cho việc tăng dần hoạt động thể chất và sự tham gia các hoạt động xã hội. Các hoạt động cần được định hình tăng dần theo từng đơn vị thời gian; nên hạn chế đau ở mức độ thấp nhất có thể, không cần phải chịu đau để đạt được các mức độ hoạt động chức năng tốt hơn. Sự tiến triển hoạt động theo cách thức này góp phần làm giảm biểu hiện đau của bệnh nhân.

Nhiều thủ thuật lên quan đến nhận thức về kiểm soát đau (ví dụ: tập luyện thư giãn, kỹ thuật phân tâm, thôi miên, phản hồi sinh học) có thể hữu ích. Bệnh nhân có thể được dạy sử dụng sự phân tâm bằng hình ảnh có hướng dẫn (tưởng tượng một cách có sắp xếp để gợi lên sự bình tĩnh và thoải mái - ví dụ như tưởng tượng nghỉ ngơi trên bãi biển hoặc nằm trong một cái võng). Các chuyên gia có thể đào tạo các kỹ thuật hành vi - nhận thức khác (như tự thôi miên).

Cách cư xử của các thành viên trong gia đình hoặc đồng nghiệp làm củng cố cách hành xử với đau (ví dụ như yêu cầu liên tục về sức khoẻ của bệnh nhân hoặc khăng khăng rằng bệnh nhân không phải làm việc nhà) không khuyến khích. Bác sĩ nên tránh các hành vi làm tăng thêm đau, không khuyến khích hành vi không thích hợp, khen ngợi, và điều trị đau trong khi nhấn mạnh sự hồi phục chức năng.

Những điểm chính

  • Kích thích gây đau, sự nhạy cảm của hệ thần kinh, và các yếu tố tâm lý có thể góp phần gây đau mạn tính.

  • Có thể là khó khăn khi phân biệt giữa các nguyên nhân tâm thần và hậu quả của đau mạn tính

  • Tìm kiếm nguyên nhân thực thể ngay cả khi các yếu tố tâm lý nổi trội và luôn đánh giá ảnh hưởng của đau đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

  • Điều trị kiểm soát đau kém bằng đa liệu pháp kết hợp (ví dụ: vật lý trị liệu, tâm lý, hành vi và điều trị can thiệp, thuốc).

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG