MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Đánh giá đau

Theo

John Markman

, MD, University of Rochester School of Medicine and Dentistry;


Sri Kamesh Narasimhan

, PhD, University of Rochester

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg4 2014| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg4 2014
Nguồn chủ đề

Các bác sĩ cần đánh giá nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng, tính chất của cơn đau và ảnh hưởng của nó trên các hoạt động, khí sắc, nhận thức, và giấc ngủ. Đánh giá nguyên nhân gây ra cơn đau cấp tính (ví dụ: đau lưng, đau ngực- xem trong chương khác THE MANUALl) khác với đau mạn tính (xem Đau mạn tính).

Hỏi bệnh nên bao gồm các thông tin sau:

  • Tính chất (ví dụ: bỏng rát, đau quặn, đau nhức, đau sâu, mơ hồ, đau như bị bắn)

  • Mức độ nghiêm trọng

  • Vị trí

  • Hướng lan

  • Thời lượng

  • Thời gian (bao gồm cả kiểu đau và mức độ biến động và tần suất giảm bớt)

  • Các yếu tố làm tăng và giảm đau

Cần đánh giá mức độ chức năng của bệnh nhân, trong đó tập trung vào các hoạt động hàng ngày (ví dụ: mặc quần áo, tắm), công việc, giải trí và các mối quan hệ cá nhân (kể cả tình dục).

Cảm nhận đau của bệnh nhân có thể biểu hiện không tương xứng với quá trình bệnh lý nội sinh. Cần phải xác định được cơn đau có tác động ảnh hưởng gì đối với bệnh nhân, nhấn mạnh đến vấn đề tâm lý, trầm cảm và lo âu. Trên phương diện xã hội, đau thường dễ được chấp nhận hơn lo âu và trầm cảm, và phương án điều trị thích hợp cần được dựa trên việc phân loại các cảm xúc khác biệt này. Cần phân biệt đau và cảm giác chịu đựng, đặc biệt là ở bệnh nhân ung thưxem Quản lý các tác dụng phụ của Liệu pháp điều trị ung thư : Đau); chịu đựng cũng có thể do nguyên nhân mất nhiều chức năng và cảm giác sợ hãi trước cái chết đang cận kề khi đau. Phải xem xét nếu có lợi ích thứ phát (lợi ích bên ngoài, lợi ích ngẫu nhiên do tình trạng bệnh lý - ví dụ như thời gian nghỉ, trợ cấp tàn tật) chi phối tới đau đớn hoặc đau liên quan tới khuyết tật. Hỏi bệnh nhân hỏi liệu đang tiến hành tố tụng hay bồi thường tài chính cho thương tích. Tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị đau mãn tính thường có thể làm sáng tỏ vấn đề hiện tại. Xem xét liệu rằng các thành viên trong gia đình đã duy trì lâu dài chứng đau mãn tính (ví dụ như liên tục hỏi về sức khoẻ của bệnh nhân.

Hỏi bệnh nhân và đôi khi các thành viên trong gia đình và người chăm sóc về việc sử dụng, hiệu quả, và các tác dụng bất lợi của thuốc theo toa và thuốc uống không cần kê đơn và các phương pháp điều trị khác cũng như về rượu và tiêu khiển hoặc dùng các thuốc cấm.

Mức độ đau

Nên đánh giá mức độ đau trước và sau các can thiệp có thể gây đau đớn. Ở bệnh nhân có thể giao tiếp bằng nói miệng, tự báo cáo là tiêu chuẩn vàng, và các dấu hiệu bên ngoài của đau hoặc phiền muộn (ví dụ khóc, nhăn nhó, run) là thứ yếu. Đối với bệnh nhân gặp khó khăn giao tiếp và với trẻ nhỏ, các dấu hiệu không dùng lời nói (hành vi và đôi khi sinh lý) là nguồn thông tin chính.

Cách đánh giá thông thường (xem Hình: Một số thang điểm đánh giá mức độ đau thường dùng) bao gồm các thang phân loại bằng lời nói (ví dụ: nhẹ, trung bình, nặng), thang số, và thang hình ảnh tương tự (VAS). Đối với thang số, bệnh nhân được yêu cầu đánh giá mức độ đau của họ từ 0 đến 10 (0 = không đau; 10 = "Cơn đau tồi tệ nhất từ trước đến bây giờ "). Đối với VAS, bệnh nhân đánh dấu mức độ đau của họ trên thang 10 cm chưa đánh dấu với phía bên trái có nhãn "không đau" và bên phải có nhãn "đau không chịu nổi". Điểm số đau là khoảng cách bằng mm từ đầu bên trái của đường thang. Trẻ em và bệnh nhân có hạn chế học vấn hoặc các vấn đề phát triển tâm thần đã biết có thể lựa chọn từ thang hình ảnh của khuôn mặt, từ mỉm cười đến nhăn nhó do đau hoặc từ những trái cây có kích cỡ khác nhau để truyền đạt nhận thức về mức độ đau. Khi ước lượng đau, người khám nên cụ thể một khoảng thời gian (ví dụ: "trung bình trong tuần vừa qua").

Một số thang điểm đánh giá mức độ đau thường dùng

Đối với Thang Đau Chức Năng, người khám cần giải thích rõ ràng cho bệnh nhân rằng những hạn chế về chức năng có liên quan đến việc đánh giá chỉ khi chúng gây ra bởi cơn đau đang được đánh giá; mục đích điều trị nhằm giảm đau càng nhiều càng tốt, ít nhất đến mức độ chấp nhận được (0-2). Được điều chỉnh từ Ban Hội Thiếu Niên Hoa Kỳ (AGS) về Đau mãn tính ở Người lớn tuổi: Quản lý đau mãn tính ở người cao tuổi. Tạp chí Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ 46: 635-651, 1998; sử dụng với sự cho phép; từ Gloth FM III, Scheve AA, Stober CV, et al: Thang đau chức năng (FPS): Độ tin cậy, tính hợp lệ và đáp ứng trong quần thể người cao tuổi. Tạp chí Hiệp hội Giám đốc Y khoa Hoa Kỳ 2 (3): 110-114, 2001; và từ Gloth FM III: Đánh giá. Trong Sổ tay Giảm đau ở Người lớn tuổi: Cách tiếp cận dựa trên bằng chứng, do FM Gloth biên soạn. Totowa (NJ), Humana Press, 2003, tr. 17; sử dụng với sự cho phép; bản quyền © FM Gloth, III, 2000.

Một số thang điểm đánh giá mức độ đau thường dùng

Bệnh nhân rối loạn tâm thần và thất ngôn

Có thể khó đánh giá đau ở bệnh nhân có bệnh lý ảnh hưởng đến nhận thức, lời nói hoặc ngôn ngữ (ví dụ: chứng mất trí, thất ngôn). Đau được gợi ý bởi khuôn mặt nhăn nhó, cau mày, hoặc mắt nhấp nháy lặp lại liên tục. Đôi khi người chăm sóc có thể mô tả các hành vi gợi ý đau (ví dụ như mất các hành vi xã hội đột ngột, cáu kỉnh, nhăn nhó). Đau nên được xem xét kĩ ở những bệnh nhân gặp khó khăn trong giao tiếp và những người thay đổi rõ ràng hành vi của họ. Với nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong giao tiếp, có thể khai thác thông tin bằng cách dùng thang đo mức độ đau phù hợp. Ví dụ: thang Đau Chức năng đã được chấp thuận và có thể được sử dụng trong các bệnh nhân ở viện dưỡng lão có điểm đánh giá trạng thái tinh thần tối thiểu 17.

Bệnh nhân sử dụng phong bế thần kinh cơ

Hiện tại, vẫn chưa có công cụ đánh giá chuẩn hóa giúp đánh giá tình trạng đau khi sử dụng các thuốc phong bế thần kinh cơ hỗ trợ thở máy. Nếu bệnh nhân được cho thuốc an thần, có thể điều chỉnh liều cho đến khi không có bằng chứng về ý thức. Trong những trường hợp như vậy, thuốc giảm đau đặc hiệu là không cần thiết. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đã dùng an thần nhưng vẫn tiếp tục có bằng chứng về trạng thái tỉnh táo (ví dụ: chớp mắt, một số chuyển động mắt làm được theo lệnh), cân nhắc điều trị đau thường dựa trên việc ước lượng giữa bệnh lý căn nguyên với mức độ đau (ví dụ: bỏng, chấn thương ). Sử dụng trước thuốc giảm đau hoặc gây tê nếu cần phải làm thủ thuật có thể gây đau (ví dụ như di chuyển bệnh nhân ra khỏi mặt giường).

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG