MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Chảy máu dưới nhện (SAH)

Theo

Elias A. Giraldo

, MD, MS, California University of Science and Medicine School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg3 2017
Nguồn chủ đề

Chảy máu dưới nhện là chảy máu đột ngột vào khoang dưới nhện. Nguyên nhân phổ biến nhất của chảy máu tự phát là vỡ phình động mạch. Các triệu chứng bao gồm đau đầu nặng đột ngột, thường kèm theo mất ý thức hoặc suy giảm ý thức. Co thắt mạch thứ phát (gây ra thiếu máu não cục bộ), kích thích màng não, và tràn dịch não (gây đau đầu dai dẳng và sững sờ) là thường gặp. Chẩn đoán bằng CT hoặc MRI; nếu hình ảnh là bình thường, chẩn đoán bằng phân tích dịch não tủy. Điều trị với các biện pháp hỗ trợ và phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch, sẽ tốt hơn nếu được thực hiện trong một trung tâm đột quỵ toàn diện.

Nguyên nhân

Chảy máu dưới nhện là chảy máu giữa màng nhện và màng mềm. Nói chung, chấn thương đầu là nguyên nhân thường gặp nhất, nhưng chảy máu dưới nhện do chấn thương thường được coi là một bệnh lý riêng. Chảy máu dưới nhện tự phát (nguyên phát) thường là do vỡ phình động mạch. Phình động mạch bẩm sinh trong sọ hình túi hoặc hình quả mọng là nguyên nhân trong khoảng 85% bệnh nhân. Chảy máu có thể ngừng tự phát. Chảy máu do vỡ phình động mạch có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở độ tuổi từ 40 đến 65.

Các nguyên nhân ít gặp hơn là phình động mạch hình nấm, dị dạng động tĩnh mạch và bệnh lý chảy máu.

Các tổn thương mạch máu trong não

Các tổn thương mạch máu não hay gặp bao gồm dị dạng động tĩnh mạch và phình động mạch.

Dị dạng động tĩnh mạch (AVMs): AVMs là các đám mạch máu rối và giãn trong đó các động mạch dẫn máu trực tiếp vào tĩnh mạch. AVM thường gặp nhất ở chỗ nối của các động mạch não, thường là trong nhu mô của vùng trán - đỉnh, thùy trán, tiểu não bên, hoặc thùy chẩm. AVM cũng có thể gặp ở trong màng cứng. AVM có thể chảy máu hoặc trực tiếp ép vào mô não; cơn co giật hoặc thiếu máu não cục bộ cũng có thể xảy ra.

Hình ảnh thần kinh có thể phát hiện chúng tình cờ; CT có hoặc không tiêm thuốc cản quang thường có thể phát hiện ra AVMs > 1 cm, nhưng chẩn đoán xác định bằng MRI. Đôi khi, tiếng thổi nghe ở bề mặt xương sọ gợi ý một AVM. Chụp mạch thường quy cần thiết để xác định chẩn đoán và xác định xem tổn thương có phẫu thuật được hay không.

AVM bề mặt có đường kính > 3 cm thường có thể tiêu hủy được bằng sự kết hợp giữa vi phẫu thuật , xạ phẫu thuật, và phẫu thuật nội mạch. AVM sâu hoặc đường kính < 3 cm được điều trị bằng xạ phẫu đích, điều trị nội mạch (ví dụ, gây huyết khối tắc mạch trước phẫu thuật với catheter trong động mạch), hoặc gây đông máu tắc mạch với các chùm proton tập trung. (Xem thêm Recommendations for the management of intracranial arteriovenous malformations từ Hội đồng Đột quỵ, Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ.)

Phình động mạch: Phình động mạch là các điểm giãn nở cục bộ của các động mạch. Gặp ở khoảng 5% số người.

Các yếu tố hay gặp góp phần tạo nên phình động mạch có thể bao gồm xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, và các bệnh mô liên kết di truyền (ví dụ, hội chứng Ehlers-Danlos, giả u vàng sợi chun, hội chứng thận đa nang gen trội nhiễm sắc thể thường). Đôi khi, huyết khối tắc mạch do nhiễm trùng gây phình động mạch hình nấm.

Phình động mạch não phần lớn có đường kính < 2,5 cm và hình túi (không khép kín); đôi khi chúng có một hoặc nhiều núm phình nhỏ, thành mỏng (phình động mạch hình quả mọng).

Hầu hết các phình động mạch xảy ra dọc theo các động mạch não giữa hoặc não trước hoặc các nhánh thông của đa giác Willis, đặc biệt là ở chỗ chia đôi động mạch. Phình động mạch hình nấm thường phát triển ở xa chỗ chia nhánh đầu tiên của các nhánh động mạch của đa giác Willis.

Nhiều phình động mạch không có triệu chứng, nhưng một số gây ra triệu chứng bằng cách ép vào các cấu trúc lân cận. Liệt vận nhãn, nhìn đôi, lác mắt, hoặc đau ổ mắt có thể gợi ý có đè ép vào các dây thần kinh sọ III, IV, V, hoặc VI. Mất thị lực và thiếu sót thị trường thái dương ha bên có thể gợi ý có đè ép giao thoa thị giác.

Phình động mạch có thể chảy máu vào khoang dưới nhện, gây chảy máu dưới nhện. Trước khi vỡ, phình động mạch đôi khi gây đau đầu cảnh báo do sự giãn rộng gây đau của phình động mạch hoặc máu rò rỉ vào khoang dưới nhện. Vỡ thực sự gây ra đau đầu dữ dội và đột ngột, được gọi là đau đầu sét đánh.

Hình ảnh thần kinh có thể phát hiện phình động mạch một cách tình cờ.

Chẩn đoán phình động mạch đòi hỏi chụp mạch máu, chụp CT mạch máu, hoặc chụp cộng hưởng từ mạch máu.

Nếu kích thước < 7mm, phình động mạch không có triệu chứng ở vòng tuần hoàn trước hiếm khi vỡ và không kiểm soát được nguy cơ của điều trị sớm. Chúng có thể được theo dõi bằng chẩn đoán hình ảnh thực hiện nhiều lần. Nếu phình động mạch lớn hơn, ở vòng tuần hoàn sau, hoặc gây ra các triệu chứng do chảy máu hoặc ép vào các cấu trúc thần kinh thì điều trị nội mạch, nếu khả thi, có thể được thực hiện.

Sinh lý bệnh

Máu trong khoang dưới nhện gây ra viêm màng não hóa học, thường làm tăng áp lực nội sọ trong vài ngày hoặc vài tuần. Co thắt mạch thứ phát có thể gây ra thiếu máu não cục bộ; khoảng 25% bệnh nhân có các dấu hiệu của cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA) hoặc đột quỵ thiếu máu não cục bộ. Phù não đạt mức tối đa và nguy cơ co thắt mạch và hậu quả là nhồi máu (gọi là bộ não giận dữ) cao nhất trong khoảng từ 72 giờ đến 10 ngày. Tràn dịch não cấp thứ phát cũng hay gặp. Vỡ thứ phát (chảy máu tái phát) đôi khi cũng xảy ra, thường gặp nhất trong vòng 7 ngày đầu.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Đau đầu thường nặng, đạt cường độ nặng nhất trong vài giây. Mất ý thức có thể xảy ra, thường là ngay lập tức nhưng đôi khi trong vòng vài giờ. Thiếu sót thần kinh nặng có thể có và trở thành không hồi phục trong vòng vài phút hoặc vài giờ. Hệ thống cảm giác có thể bị suy giảm, và bệnh nhân có thể trở nên bồn chồn, bứt rứt không yên. Động kinh có thể xảy ra. Thông thường, cổ không cứng ngay từ đầu, trừ khi có thoát vị hạnh nhân tiểu não. Tuy nhiên, trong vòng 24 giờ, viêm màng não hóa học gây ra các dấu hiệu màng nào rõ ràng hơn, nôn, và đôi khi là đáp ứng duỗi bàn chân hai bên. Tần số tim và tần số thở thường là bất thường.

Sốt, đau đầu liên tục, và lú lẫn thường gặp trong 5 đến 10 ngày đầu tiên. Tràn dịch não thứ phát có thể gây đau đầu, trạng thái trơ với các kích thích, và thiếu sót vận động kéo dài trong vài tuần. Chảy máu tái phát có thể gây ra các triệu chứng tái diễn hoặc mới.

Chẩn đoán

  • Thường là CT không tiêm thuốc đối quang và, nếu âm tính, chọc dịch não tủy

Chẩn đoán chảy máu dưới nhện được gợi ý bởi các triệu chứng đặc trưng. Xét nghiệm cần được thực hiện càng nhanh càng tốt, trước khi tổn thương trở thành không hồi phục.

CT không tiêm thuốc đối quang được thực hiện trong vòng 6 giờ từ khi khởi phát triệu chứng. MRI có độ nhạy tương đương nhưng ít có khả năng hơn để thực hiện được ngay. Kết quả âm tính giả xuất hiện nếu thể tích máu chảy là nhỏ hoặc nếu bệnh nhân thiếu máu đến mức máu đồng tỷ trọng với nhu mô não.

Nếu trên lâm sàng nghi ngờ chảy máu dưới nhện nhưng không được xác định được bằng chẩn đoán hình ảnh hoặc nếu không thể thực hiện chẩn đoán hình ảnh ngay thì nên thực hiện chọc dịch não tủy. Chọc hút thắt lưng là chống chỉ định nếu tăng áp lực nội sọ vì có thể giảm áp lực CSF đột ngột có thể làm giảm chèn ép cục máu đông ở phình phình rách, dẫn đến chảy máu thêm.

Những điểm cần lưu ý

  • Nghi ngờ chảy máu dưới nhện nếu đau đầu dữ dội và đạt cường độ cao nhất trong vòng vài giây hoặc gây mất ý thức.

  • Chọc dịch não tủy nếu trên lâm sàng nghi ngờ chảy máu dưới nhện nhưng CT không thấy chảy máu hoặc không thực hiện được; tuy nhiên, chống chỉ định chọc dịch não tủy nếu nghi ngờ tăng áp lực nội sọ.

Kết quả dịch não tủy gợi ý chảy máu dưới nhện bao gồm:

  • Nhiều hồng cầu

  • Có màu vàng

  • Tăng áp lực

Hồng cầu trong dịch não tủy cũng có thể do tổn thương mạch máu trong quá trình chọc dịch não tủy. Nghi ngờ tổn thương mạch máu trong quá trình chọc dịch não tủy nếu số lượng hồng cầu giảm dần trong các ống dịch não tủy sau trong cùng một lần thực hiện thủ thuật. Khoảng 6 giờ trở đi sau chảy máu dưới nhện, hồng cầu trở nên có khía và bị phân hủy, dẫn đến có lớp sắc tố vàng trên bề mặt dịch não tủy và nhìn thấy hồng cầu có khía (qua kính hiển vi); những kết quả này thường chỉ ra rằng chảy máu dưới nhện đã có trước khi chọc dịch não tủy. Nếu vẫn còn nghi ngờ, vẫn nên coi như là một trường hợp có chảy máu dưới nhện, hoặc chọc dịch não tủy lại trong 8 đến 12 giờ.

Ở bệnh nhân chảy máu dưới nhện, chụp động mạch não thường quy được thực hiện càng sớm càng tốt sau khởi phát chảy máu; các phương pháp thay thế bao gồm chụp cộng hưởng từ mạch máu và chụp CT mạch máu. Tất cả 4 động mạch (2 động mạch cảnh và 2 động mạch đốt sống) nên được tiêm thuốc cản quang vì có tới 20% bệnh nhân (phần lớn là nữ) có nhiều phình động mạch.

Trong chảy máu dưới nhện, điện tim đồ có thể có ST chênh lên hoặc chênh xuống. Nó có thể gây ngất, giống nhồi máu cơ tim. Các bất thường khác có thể có trên điện tâm đồ bao gồm khoảng QRS hoặc QT kéo dài và sóng T âm, sâu, đối xứng.

Tiên lượng

Khoảng 35% bệnh nhân tử vong sau chảy máu dưới nhện do vỡ phình động mạch lần đầu tiên; 15% khác chết trong vòng vài tuần do vỡ tái phát. Sau 6 tháng, vỡ lần 2 xảy ra với tỷ lệ khoảng 3% / năm. Nhìn chung, tiên lượng xấu với phình động mạch, tốt hơn với dị dạng động tĩnh mạch, và tốt nhất khi chụp mạch cả 4 mạch không phát hiện tổn thương, trường hợp này được cho là nguồn gốc chảy máu nhỏ và có thể tự cầm. Trong số những người sống sót, tổn thương thần kinh hay gặp, ngay cả khi đã điều trị tối ưu.

Điều trị

  • Điều trị tại một trung tâm đột quỵ toàn diện

  • Nicardipine nếu huyết áp động mạch trung bình > 130 mm Hg

  • Nimodipin để dự phòng co thắt mạch não

  • Gây tắc túi phình động mạch là nguyên nhân chảy máu

Bệnh nhân chảy máu dưới nhện cần được điều trị tại một trung tâm đột quỵ toàn diện nếu có thể.

Tăng huyết áp chỉ nên được điều trị nếu huyết áp động mạch trung bình > 130 mm Hg; duy trì tình trạng dịch đẳng trương, và nicardipine đường tĩnh mạch được điều chỉnh liều như đối với chảy máu trong nãoxem Chảy máu trong não).

Bắt buộc phải nghỉ ngơi tại giường. Điều trị triệu chứng đối với bồn chồn và đau đầu. Thuốc làm mềm phân được sử dụng dùng để tránh táo bón, tình trạng có thể dẫn đến căng thẳng.

Chống chỉ định thuốc chống đông và chống tiểu cầu.

Co thắt mạch não được dự phòng bằng nimodipine 60 mg mỗi 4 giờ trong 21 ngày, nhưng huyết áp cần phải được kiểm soát (con số được cân nhắc thường là huyết áp động mạch trung bình 70 đến 130 mm Hg và huyết áp tâm thu từ 120 đến 185 mm Hg).

Nếu có dấu hiệu lâm sàng của tràn dịch não cấp, cần xem xét chỉ định dẫn lưu não thất.

Phình động mạch được làm tắc để giảm nguy cơ tái chảy máu. Có thể can thiệp nút coils nội mạch trong khi chụp mạch để gây tắc phình động mạch. Bên cạnh đó, nếu phình động mạch dễ tiếp cận, phẫu thuật kẹp clip túi phình động mạch hoặc phẫu thuật bắc cầu có thể được thực hiện, đặc biệt ở bệnh nhân có khối máu tụ có thể phẫu thuật hút ra được hoặc bệnh nhân có tràn dịch não cấp. Nếu bệnh nhân tỉnh, hầu hết các bác sĩ phẫu thuật thần kinh mạch máu sẽ tiến hành phẫu thuật trong vòng 24 giờ đầu để giảm nguy cơ chảy máu tái phát và các nguy cơ do "não tức giận". Nếu > 24 giờ đã trôi qua, một số bác sĩ phẫu thuật thần kinh trì hoãn phẫu thuật đến 10 ngày; cách tiếp cận này làm giảm các nguy cơ do "não tức giận" nhưng làm tăng nguy cơ chảy máu tái phát và tử vong chung.

Những điểm chính

  • Các biến chứng có thể xảy ra sau chảy máu dưới nhện bao gồm viêm màng não hóa học, co thắt mạch não, tràn dịch não, chảy máu tái phát và phù não.

  • Nghi ngờ chảy máu dưới nhện nếu đau đầu dữ dội lúc khởi phát và đạt cường độ mạnh nhất trong vòng vài giây hoặc gây mất ý thức.

  • Nếu chảy máu dưới nhện được xác định, cần đánh giá cả hai động mạch cảnh và động mạch đốt sống bằng phương pháp chụp động mạch não thường quy, chụp cộng hưởng từ mạch máu, hoặc chụp CT mạch máu vì nhiều bệnh nhân có nhiều phình động mạch.

  • Nếu có thể, hãy chuyển bệnh nhân đến một trung tâm đột qụy toàn diện để điều trị.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG