MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Mở lồng ngực dẫn lưu như thế nào

Theo

Noah Lechtzin

, MD, MHS, Johns Hopkins University School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg10 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2016
Nguồn chủ đề

Mở lồng ngực dẫn lưu là đặt một ống dẫn lưu vào khoang màng phổi để dẫn lưu khí hoặc dịch từ lồng ngực đi ra ngoài.

Chỉ định

Chống chỉ định

Không có chống chỉ định tuyệt đối đối với đặt sonde dẫn lưu màng phổi

Chống chỉ định tương đối bao gồm

  • Rối loạn đông cầm máu (có thể cần các chế phẩm máu hoặc các yếu tố đông máu)

Biến chứng

  • Ống dẫn lưu ở sai vị trí, trong rãnh liên thùy phổi, dưới cơ hoành, hoặc dưới da

  • Tắc ống dẫn do cục máu đông, mảnh tổ chức, hoặc bị xoắn

  • Lệch vị trí của ống, cần đặt lại

  • Phù phổi do phổi nở ra

  • Tràn khí dưới da

  • Nhiễm trùng dịch màng phổi hoặc tràn dịch tái phát

  • Rách nhu mô phổi hoặc cơ hoành

  • Tổn thương dây thần kinh liên sườn do chấn thương của bó mạch thần kinh dưới sườn

  • Sự chảy máu

  • Hiếm khi gây thủng các cơ quan khác ở ngực hoặc bụng

Dụng cụ

  • Áo choàng, mặt nạ, găng tay và toan vô trùng

  • Băng gạc tổng hợp và bặc gạc thường

  • Dung dịch sát khuẩn như dung dịch chlorhexidine 2%

  • Kim 25- gauge và kim 21- gauge

  • Bơm tiêm 10 và 20 ml

  • Thuốc gây tê tại chỗ như lidocaine 1%

  • 2 kẹp Hemostat hoặc kẹp Kelly

  • Chỉ không tiêu, chỉ bằng lụa hoặc nylon chắc chắn (ví dụ, 0 hoặc 1-0)

  • Lưỡi dao (lưỡi cỡ 11)

  • Ống dẫn lưu thành ngực: Kích thước từ 16 đến 36 French (Fr) và phụ thuộc vào mục đích sử dụng (20 đến 24 Fr cho tràn khí màng phổi, 20 đến 24 Fr cho tràn dịch màng phổi ác tính, 28 đến 36 Fr cho tràn dịch màng phổi cận viêm phổi, 32 đến 36 Fr cho tràn máu màng phổi)

  • Hệ thống hút

  • Thiết bị dẫn lưu van nước kín và ống nối

Các cân nhắc bổ sung

  • Bác sĩ được đào tạo về thủ thuật là người lựa chọn ống dẫn lưu chính xác nhất. Các bác sĩ khác có thể làm giảm áp trong tràn khí màng phổi áp lực bằng kim

  • Đặt dẫn lưu là thủ thuật được thực hiện nội trú. Nếu được thực hiện tại khoa cấp cứu, bệnh nhân sau đó sẽ được nhập viện.

Xác định vị trí

  • Đối với bệnh nhân tự thở,để đầu giường cao 30-60 ° để hạn chế sự nâng lên của cơ hoành khi thở ra và làm giảm nguy cơ đặt ống dẫn lưu vào ổ bụng.

  • Cánh tay ở bên ngực cần dẫn lưu được đặt cao lên trên đầu của bệnh nhân hoặc giạng ra .

  • Bàn tay có thể được đặt phía sau đầu.

Giải phẫu liên quan

  • Các bó mạch thần kinh nằm ở bờ dưới của mỗi xương sườn. Vì vậy, ống dẫn lưu phải được đặt ở bờ trên của xương sườn để tránh làm tổn thương bó mạch thần kinh liên sườn.

Các bước làm thủ thuật và các điểm chính

  • Nếu có thời gian, hãy giải thích về thủ thuật và cần có được sự đồng ý của bệnh nhân hoặc người thân khi có thể.

  • Nối hệ thống hút bình có van nước vô trùng với nguồn hút. Thông thường, sử dụng một thiết bị có sẵn có thể kết nối nguồn hút trên tường với ống dẫn lưu, sử dụng các đầu nối bằng nhựa.

  • Vị trí dẫn lưu có thể thay đổi tùy theo chỉ định dẫn lưu là khí hay là dịch. Đối với tràn khí màng phổi, ống dẫn lưu thường được đặt vào khoang liên sườn 4, và các trường hợp khác trong khoang liên sườn thứ 5 ở đường nách giữa hoặc đường nách trước.

  • Đánh dấu vị trí đã xác định

  • Sát khuẫn vùng xung quanh chỗ dẫn lưu bằng dung dịch sát trùng như chlorhexidine.

  • Trải săng vùng đặt dẫn lưu.

  • Tiêm thuốc gây tê tại chỗ như lidocaine 1% vào da, mô dưới da, cạnh màng xương (xương sườn ở dưới vị trí đặt dẫn lưu), và màng phổi thành. Tiêm một lượng lớn các thuốc gây tê tại chỗ xung quanh màng xương và màng phổi thành. Hút ống tiêm trước khi tiêm lidocaine để tránh tiêm vào mạch máu. Vị trí thích hợp được xác nhận bằng cách hút thấy khí hoặc dịch trong ống tiêm gây tê khi đi vào khoang màng phổi.

  • Ước tính độ sâu của ống dẫn lưu cần phải được đặt vào sao cho tất cả các lỗ của ống nằm bên trong khoang màng phổi, qua mô dưới da và mô mỡ, đặc biệt ở bệnh nhân béo phì. Chú thích hoặc đánh dấu trên ống vị trí mà sau đó sẽ được nhìn thấy trên da.

  • Rạch da từ 1,5 đến 2 cm và sau đó tách các mô mềm vào màng phổi bằng cách dùng phanh hoặc kẹp Kelly và mở vào khoang màng phổi. Xác định xương sườn bên dưới lỗ mở và đi qua bờ dưới xương sườn để vào khoang màng phổi. Sau đó tách màng phổi bằng kẹp (thường là dấu hiệu bật và / hoặc giảm đột ngột sức kháng) và mở ra theo cùng một cách.

  • Sử dụng một ngón tay để làm rộng đường vào và kiểm tra chắc chắn đã vào trong khoang màng phổi và không có dày dính.

  • Kẹp ống dẫn lưu ở phía cuối đầu bên ngoài.

  • Đưa ống dẫn lưu vào, với một kẹp khác phía đầu, đi qua đường dẫn và hướng về phía sau dưới đối với tràn dịch màng phổi và hường về phía đỉnh đối với tràn khí màng phổi, cho đến khi tất cả các lỗ của ống nằm bên trong lồng ngực.

  • Khâu ống dẫn lưu màng phổi vào da thành ngực sử dụng một trong nhiều phương pháp khâu. Một cách là sử dụng kỹ thuật khâu túi. Ngoài ra, khâu một mũi chỉ chờ ngang qua vết rạch ở bên cạnh ống và thắt các mũi khâu quanh ống. Một phương pháp khác là khâu ngắt quãng qua chỗ rạch da tại một bên của ống dẫn lưu thay thế cho khâu hình túi và thắt chặt chỉ khâu vào ống dẫn lưu

  • Đặt một băng vải vô trùng bằng dầu gạc để đóng vết thương.

  • Cắt 2 tấm gạc vô trùng và băng quanh ống dẫn lưu.

  • Tháo toan phủ

  • Băng ép tại chỗ dẫn lưu Cân nhắc dán băng ở ngoài của ống lẫn lưu vào người bệnh nhân hoặc riêng biệt.

  • Kết nối ống với thiết bị bình hút kín có nước để ngăn không khí đi vào ngực qua ống và cho phép dẫn lưu có hoặc không với hút áp lực.

Chăm sóc sau thủ thuật

  • Cần chụp X-quang ngực trước tại giường để kiểm tra vị trí của ống dẫn lưu Nếu có lo ngại về vị trí hoặc chức năng của ống dẫn lưu, nên chụp X-quang từ sau ra trước và X-quang nghiêng hoặc CLVT ngực (1).

  • Ống dẫn lưu màng phổi được rút ra khi tình trạng được ổn định. Với tràn khí màng phổi, hút được dừng lại và ống dẫn lưu được đặt trên mức nước đánh dấu trong vài giờ để đảm bảo rằng không khí đi ra đã dừng lại và nhu mô phổi vẫn giãn nở. Chụp X-quang ngực thường được lặp lại 12 đến 24 giờ sau khi có bằng chứng hết khí trước khi rút ống Đối với tràn dịch màng phổi hoặc tràn máu màng phổi, ống thông thường được rút khi lượng dịch <100 đến 200 mL / ngày.

  • Rút ống dẫn lưu ở bệnh nhân thở máy, đặc biệt là những người có nhu cầu oxy cao, thở máy áp lực dương, bệnh phổi mãn, hoặc tăng nguy cơ tràn khí màng phổi tái phát, chỉ nên thực hiện sau khi hội chẩn với chuyên gia về hô hấp.

  • Để rút ống dẫn lưu, bệnh nhân nên ở tư thế ngồi. Sau khi loại bỏ các mũi khâu, tại thời điểm rút sonde, bệnh nhân được yêu cầu hít một hơi sâu và sau đó thở ra mạnh; ống được lấy ra trong quá trình thở ra để làm giảm nguy cơ tràn khí màng phổi trong quá trình rút.

  • Thắt chỉ khâu túi, nếu đã khâu sẵn trong quá trình đặt ống dẫn lưu,và/ hoặc khâu bổ sung có thể là cần thiết để đóng vết rạch da.

  • Chụp lại Xquang ngực sau vài giờ sau khi rút ống ngực. Nếu không thấy hiện tượng tràn khí trên x quang sau khi rút ống ngực thì không cần chụp Xquang phổi thêm nữa, ngoại trừ trường hợp có những thay đổi lâm sàng của bệnh nhân.

Cảnh báo và lỗi phổ biến

  • Thiết bị hút kín có mực nước phải được giữ dưới 40 inch (hoặc 100 cm) bên dưới bệnh nhân để tránh lưu thông ngược dòng của chất lỏng hoặc không khí trở lại vào khoang màng phổi.

  • Một số bác sĩ lâm sàng khuyên nên hút không nhiều hơn 1,5 L dịch màng phổi trong vòng 24 giờ do lo lắng về việc làm phù phổi do giãn nở. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy nguy cơ phù phổi do giãn nở là tỷ lệ thuận với lượng dịch được loại bỏ. Vì vậy, phải theo dõi lượng dịch dẫn lưu ra tại thời điểm đặt ống dẫn lưu

  • Nếu x-quang ngực cho thấy ống dẫn lưu ngực không đủ sâu vào ngực và các lỗ trong ống dẫn lưu không ở trong khoang ngực, thì cần đặt lại ống dẫn lưu. Đẩy thêm ống dẫn lưu vào có thể đưa ống dẫn lưu không vô khuẩn vào trong khoang màng phổi .

  • Các lỗi đặt ống dẫn lưu phổ biến bao gồm số lượng thuốc gây tê tại chỗ không đủ và vết rạch ban đầu quá nhỏ (2, 3).

  • Khóa chốt cố định mức ống trước khi đặt ống, việc này có thể đòi hỏi một lực đáng kể.

Các mẹo và thủ thuật

  • Có thể sử dụng an thần trước khi làm thủ thuật trong một số trường hợp.

  • Khi đánh dấu điểm đặt, sử dụng bút đánh dấu da hoặc tạo vết ấn bằng bút để sau khi sát khuẩn sẽ không bị xóa4).

Tài liệu tham khảo

  • 1. Pacharn P, Heller DN, Kammen BF, et al: X quang phổi thường cần thiết sau khi cắt bỏ ổ lồng ngực? Pediatr Radiol 32(2):138–142, 2002.

  • 2.Kim YW, Byun CS, Cha YS, et al: Kết quả khác biệt của vị trí đặt ống ở khâu hở ngực khép kín cho tràn khí màng phổi tự phát ban đầu. Am Surg 81(5):463–466 2015.

  • 3. Menger R, Telford G, Kim P, et al: Các biến chứng sau chấn thương ngực được điều chỉnh bằng phương pháp mở lồng ngực đặt ống dẫn lưu. Injury 43(1):46–50, 2012.

  • 4. Adrales, G, Huynh T. Broering B, et al: Hướng dẫn đặt ống mở ngực nâng cao hiệu quả quản lý trong các bệnh nhân chấn thương. J Trauma 52(2):210–214, 2002.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG