MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Tổng quan của Porphyrias

Theo

Herbert L. Bonkovsky

, MD, Wake Forest University School of Medicine;


Sean R. Rudnick

, MD, Wake Forest University School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg2 2017
Nguồn chủ đề

Porphyrias là kết quả của thiếu hụt enzym do gen di truyền hoặc mắc phải của con đường sinh tổng hợp heme. Những thiếu sót này làm tích lũy các tiền thân heme gây độc. Porphyrias được xác định bởi sự thiếu các enzyme nhất định. Hai biểu hiện lâm sàng chính xảy ra: bất thường thần kinh giao cảm (các porphyrias cấp tính) và da nhạy cảm ánh sang (porphyrias da).

Heme, một hợp chất có chứa sắt, là một đồng yếu tố cần thiết của nhiều hemoprotein. Hầu như tất cả các tế bào của cơ thể người đều cần và tổng hợp heme. Tuy nhiên, phần lớn heme được tổng hợp trong tủy xương (bởi hồng cầu và bạch cầu) và được kết hợp vào hemoglobin. Gan là vị trí tích cực thứ hai tổng hợp heme, hầu hết được kết hợp với các enzym cytochrome P-450. Sự tổng hợp Heme đòi hỏi 8 enzyme (xem Bảng: Cơ chất và Enzyme của con đường sinh tổng hợp Heme và các bệnh liên quan đến thiếu hụt chúng). Các enzyme này tạo ra và biến đổi các phân tử đặc biệt gọi là porphyrins (và tiền thân của chúng); sự tích tụ của các chất này gây ra biểu hiện lâm sàng của porphyrias.

Nguyên nhân

Ngoại trừ một số thể không thường xuyên của porphyria cutanea tarda (PCT), porphyrias là những bệnh di truyền. Di truyền gien trội nhiễm sắc thể thường (AD) là phổ biến nhất.

Trong porphyrias AD, các trạng thái dị đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép (tức là 2 đột biến dị hợp tử riêng biệt, một trong mỗi allele của cùng một gen trên cùng một bệnh nhân) có thể không tương thích với sự sống, thường gây tử vong cho thai nhi. Bệnh xâm nhập qua gen dị hợp tử; do đó, biểu hiện lâm sàng của bệnh ít phổ biến hơn so với tần suất kiểu gen. 2 chứng porphyrias phổ biến nhất, PCT và porphyria từng cơn cấp tính (AIP), là AD (20% PCT là AD). Tỷ lệ PCT khoảng 1 / 10.000. Tần suất của đột biến gen gây ra AIP là khoảng 1/1500, nhưng vì sự thâm nhập thấp, tỷ lệ bệnh lâm sàng cũng khoảng 1/10 000. Sự phổ biến của cả PCT và AIP rất khác nhau giữa các vùng và các nhóm chủng tộc.

Trong các thể porphyria gien lặn nhiễm sắc thể thường, chỉ có các trạng thái đồng hợp tử hoặc phức hợp dị hợp tử kép gây bệnh. Erythropoietic protoporphyria, thể porphyria phổ biến thứ 3, là đột biến lặn nhiễm sắc thể thường.

Di truyền liên kết gen X xảy ra ở một trong những thể porphyria, protoporphyria liên kết gen X.

Bảng
icon

Cơ chất và Enzyme của con đường sinh tổng hợp Heme và các bệnh liên quan đến thiếu hụt chúng

Cơ chất /Enzyme*

Porphyria

Triệu chứng thần kinh

Triệu chứng da

Di truyền

Glycine + succinyl CoA

Este của axit delta-aminolevulinic đặc hiệu tuyến ruột-2 (ALAS 2)

protoporphyria liên kết gen X (do tăng Hoạt động enzyme)

Không

kiểu hình giống như EPP

Liên kết X

Axit Delta-aminolevulinic

Delta-aminolevulinic acid dehydratase (ALAD)

Porphyria thiếu hụt ALAD

Không

Gen lặn nhiễm sắc thể thường

Porphobilinogen

Porphobilinogen deaminase

Porphyria cấp tính từng cơn

Không

Gen trội nhiễm sắc thể thường

Hydroxymethylbilane

Uroporphyrinogen III cosynthase

Porphyria tạo hồng cầu bẩm sinh

Không

Tổn thương da trầm trọng.

Gen lặn nhiễm sắc thể thường

Uroporphyrinogen III

Uroporphyrinogen decarboxylase

Porphyria thể da muộn

Không

Da dễ rách, phồng rộp

Hai biến thể:

  • Đột biến trội nhiễm sắc thể thường (20-25% trường hợp)

  • Không có mối liên hệ di truyền đã biết (lẻ tẻ, 75-80%)

porphyria thể tạo hồng cầu ở gan

Không

Phồng rộp nặng

Gen lặn nhiễm sắc thể thường

Coproporphyrinogen III

Copolyme coproporphyrinogen

coproporphyria di truyền

Da dễ rách, phổng rộp

Gen trội nhiễm sắc thể thường

Protoporphyrinogen IX

Protoporphyrinogen oxidase

Variegate porphyria

Da dễ vỡ, phồng rộp

Tính trạng trội nhiễm sắc thể thường

Protoporphyrin IX

Ferrochelatase

Erythropoietic protoporphyria(EPP)

Không, ngoại trừ bệnh nhân bị bệnh lý gan mật nặng

Đau da, hằn cổ trâu và những thay đổi da nhỏ khác, nhưng không phồng rộp

Lặn ngan

Heme (sản phẩm cuối cùng được kết hợp trong các protein heme khác nhau)

* Được liệt kê là các chất trung gian kế tiếp trong con đường tổng hợp heme, bắt đầu bằng glycine và succinyl CoA và kết thúc bằng heme. Thiếu enzyme gây ra sự tích tụ của các hợp chất tiền thân.

protoporphyria liên kết gen X là kết quả từ các đột biến chức năng làm tăng hoạt động của ALAS 2, gây ra sự tích tụ protoporphyrin. Giảm hoạt động của ALAS 2 gây ra thiếu máu nguyên bào sắt.

Sinh lý bệnh

Porphyrias là kết quả của sự thiếu hụt bất kỳ enzym nào trong 7 enzyme cuối cùng của con đường tổng hợp heme hoặc từ tăng hoạt tính của enzyme đầu tiên trong con đường, ALA synthase-2 (ALAS 2). (Sự thiếu hụt ALAS 2 gây thiếu máu nguyên bào sắt hơn là porphyria). Các gen đơn mã hóa từng enzyme; bất kỳ một số đột biến có thể làm thay đổi mức độ và/hoặc hoạt động của enzym được mã hoá bởi gen đó. Khi một enzyme tổng hợp heme bị thiếu hoặc khiếm khuyết, cơ chất của nó và các chất tiền thân khác của heme được biến đổi bởi enzym đó có thể tích tụ trong tủy xương, gan, da, hoặc các mô khác và gây độc. Những tiền chất này có thể xuất hiện dư thừa trong máu và được bài tiết qua nước tiểu, mật, hoặc phân.

Mặc dù porphyrias được xác định chính xác nhất theo loại enzym thiếu hụt, phân loại theo các đặc điểm lâm sàng chính (phenotype) vẫn hay thường được sử dụng nhất. Do đó, porphyrias thường được chia thành 2 thể:

  • Thể cấp

  • Thể da

Porphyrias cấp tính biểu hiện từng đợt với các triệu chứng về bụng, tâm thần, và thần kinh. Chúng thường được kích thích bởi thuốc, hoạt động hormon theo chu kỳ ở phụ nữ trẻ và các yếu tố ngoại sinh khác. Porphyrias da có khuynh hướng gây ra các triệu chứng liên tục hoặc từng đợt liên quan đến nhạy cảm của da với ánh sáng. Một số thể porphyrias cấp tính (coproporphyria di truyền, variegate porphyria) cũng có thể có biểu hiện da. Do sự thâm nhập thay đổi trong các dị hợp tử, biểu hiện lâm sàng ít phổ biến hơn so với tần suất di truyền (xem Bảng: Các đặc điểm chính của hai thể Porphyrias phổ biến nhất).

Sự thay đổi màu sắc nước tiểu (đỏ hoặc nâu đỏ) có thể xảy ra trong giai đoạn có triệu chứng của tất cả các loại porphyrias ngoại trừ protoporphyria erythropoietic (EPP) và Porphyria thiếu hụt ALAD. Sự mất màu sắc do sự oxy hóa porphyrinogens, porphyrin tiền chất của porphobilinogen (PBG), hoặc cả hai. Đôi khi màu sắc thay đổi sau khi nước tiểu đã ở trong không khí hoặc ánh sáng trong vài phút, cho phép thời gian cho quá trình oxy hóa không enzym. Trong porphyrias cấp tính, ngoại trừ porphyria thiếu ALAD, khoảng 1 trong 3 dị hợp tử (thường gặp ở nữ giới hơn nam giới) cũng làm tăng bài tiết PBG trong nước tiểu (và mất màu sắc nước tiểu) trong giai đoạn tiềm ẩn.

Bảng
icon

Các đặc điểm chính của hai thể Porphyrias phổ biến nhất

Porphyria

Các triệu chứng biểu hiện

Các yếu tố làm trầm trọng thêm

Các xét nghiệm tầm soát quan trọng nhất *

Điều trị

Porphyria cấp tính từng đợt

Nội tại thần kinh (liên tục, cấp tính)

Các thuốc (chủ yếu là các thuốc cảm ứng cytochrome P-450)

Nhịn đói

Uống rượu

Dung môi hữu cơ

Nhiễm trùng

Stress

PBG tiết niệu

Glucose

Heme

Porphyria cutanea tarda

các tổn thương da phồng rộp (mãn tính)

Sắt

Uống rượu

Estrogens

Vi-rút viêm gan C

Hydrocarbon halogen hóa

Porphyrins huyết thanh hoặc nước tiểu

Trích máu tĩnh mạch

Liều thấp chloroquine hoặc hydroxychloroquine

* Trong giai đoạn có triệu chứng.

PBG =porphobilinogen.

Chẩn đoán

  • Xét nghiệm máu hoặc nước tiểu

Bệnh nhân có các triệu chứng nghi ngờ porphyria được kiểm tra bằng xét nghiệm porphyrins máu hoặc nước tiểu hoặc tiền thân porphyrin PBG và ALA (xem Bảng: Sàng lọc Porphyrias). Các kết quả bất thường trên sàng lọc được xác nhận bằng các xét nghiệm thêm.

Những bệnh nhân không triệu chứng, bao gồm những người mang bệnh nghi ngờ và những người đang giữa các đợt cấp, được đánh giá tương tự. Tuy nhiên, các xét nghiệm này ít nhạy cảm trong những trường hợp này; đo lường hoạt động enzyme RBC hoặc WBC được cân nhắc là nhạy cảm hơn. Phân tích di truyền là rất chính xác và ưu tiên sử dụng trong các gia đình khi đột biến được xác định. Xét nghiệm tiền sản (chọc ối hoặc lấy mẫu tế bào biểu mô màng đệm) có thể làm nhưng hiếm khi được chỉ định.

Bảng
icon

Sàng lọc Porphyrias

Xét nghiệm

Ở người bệnh có triệu chứng thần kinh cấp tính

Ở bệnh nhân nhạy cảm với ánh sáng

Sàng lọc

PBG tiết niệu (bán định lượng, mẫu nước tiểu ngẫu nhiên)

Porphyrins huyết thanh *

Xác nhận (khi kết quả xét nghiệm tầm soát có bất thường điển hình)

ALA và PBG niệu

(định lượng)

Porphyrins phân và nước tiểu

RBC PBG khử amin

porphyrins huyết thanh*

RBC porphyrins

ALA, PBG và porphyrins niệu (định tính)

porphyrins phân

porphyrins * huyết thanh

Phương pháp được ưu tiên là bằng phương pháp quang phổ huỳnh quang trực tiếp.

Porphyrins phân và nước tiểu được phân đoạn nếu lượng toàn phần tăng lên.

Kết quả được hiệu chỉnh theo mức creatinine nước tiểu.

ALA = acid delta-aminolevulinic; PBG = porphobilinogen.

Porphyrin niệu thứ phát

Một số bệnh không liên quan đến porphyrias có thể liên quan đến việc bài tiết porphyrins trong nước tiểu; hiện tượng này được mô tả như porphyrin niệu thứ phát.

Các rối loạn huyết học, bệnh gan mật, và độc tố (ví dụ như rượu, benzen, chì) có thể làm bài tiết coproporphyrin trong nước tiểu tăng lên. Sự bài tiết coproporphyrin tăng lên trong nước tiểu có thể xảy ra ở bất kỳ chứng rối loạn gan mật nào vì mật là một trong những đường bài tiết porphyrin. Uroporphyrin cũng có thể tăng lên ở bệnh nhân rối loạn mật gan. Protoporphyrin không được bài tiết qua nước tiểu vì nó không tan trong nước.

Một số bệnh nhân có đau bụng và các triệu chứng thần kinh giống cơn porphyrias cấp tính. ALA và PBG niệu thường không tăng ở những bệnh này, và nồng độ bình thường giúp phân biệt porphyrin niệu thứ phát với porphyrias cấp tính. Tuy nhiên, một số bệnh nhân bị ngộ độc chì có thể có nồng độ ALA trong nước tiểu tăng. Nồng độ chì trong máu nên được đo ở những bệnh nhân như vậy. Nếu ALA và PBG niệu bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ, đo nồng độ porphyrin toàn phần trong nước tiểu và số liệu sắc ký lỏng hiệu suất cao của các porphyrin này rất hữu ích cho chẩn đoán phân biệt các hội chứng porphyric cấp.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG