MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Mãn kinh

Theo

JoAnn V. Pinkerton

, MD, University of Virginia Health System

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2018| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg2 2018
Nguồn chủ đề

Thời kỳ mãn kinh là giai đoạn mất chức năng sinh lý hoặc kết thúc chu kỳ kinh nguyệt (vô kinh) do giảm chức năng buồng trứng. Các triệu chứng có thể bao gồm bốc hoả, ra mồ hôi ban đêm, rối loạn giấc ngủ, và hội chứng niệu sinh dục của mãn kinh (các triệu chứng và dấu hiệu do thiếu hụt estrogen, chẳng hạn như teo âm hộ - âm đạo ) Chẩn đoán bằng lâm sàng: không có kinh nguyệt trong 1 năm. Các biểu hiện có thể được điều trị (ví dụ như với cách thay đổi lối sống, thuốc bổ sung và thay thế, và/hoặc liệu pháp hormone).

Ở Mỹ, tuổi trung bình của mãn kinh sinh lý là 52. Các yếu tố như hút thuốc, sống ở độ cao và thiếu dinh dưỡng có thể làm giảm tuổi mãn kinh.

Thời kỳ tiền mãn kinh diễn ra đến một vài năm (thời gian dao động nhiều) trước và 1 năm sau thời kỳ kinh nguyệt cuối cùng. Đây thường là giai đoạn có nhiều triệu chứng nhất vì các hóc môn đang dao động.

Thời kỳ chuyển tiếp mãn kinh (những năm trong thời kỳ tiền mãn kinh kéo dài đến kỳ kinh cùng) được đặc trưng bởi những thay đổi trong mô hình kinh nguyệt và được chia thành giai đoạn sớm và muộn (xem Bảng: Giai đoạn của thời kỳ mãn kinh).

Sau mãn kinh dùng để chỉ thời gian sau kỳ kinh cuối cùng; nó cũng được chia thành giai đoạn sớm và muộn.

Bảng
icon

Giai đoạn của thời kỳ mãn kinh

Đặc tính

Chuyển mãn kinh sớm

Chuyển mãn kinh muộn

Sau mãn kinh sớm

Sau mãn kinh muộn

Thời gian

Thay đổi

1-3 năm

2 năm

3-6 năm

Cho đến khi chết

Chu kỳ kinh nguyệt

Chiều dài thay đổi (sự khác biệt kéo dài ≥ 7 ngày trong các chu kỳ liên tiếp)

Khoảng thời gian ngừng kinh nguyệt kéo dài ≥ 60 ngày

Nồng độ FSH vào ngày thứ 2-5 chu kỳ

Cao nhưng thay đổi

Cao (> 25 IU/L)

Cao nhưng thay đổi

Ổn định *

Triệu chứng

Các triệu chứng vận mạch có thể xảy ra

Các triệu chứng vận mạch có nhiều khả năng xảy ra

Các triệu chứng của hội chứng niệu sinh dục khi mãn kinh

* Nồng độ FSH tăng lên khoảng 2 năm sau kỳ kinh cuối cùng, rồi sau đó ổn định.

Adapted from Harlow SD, Gass M, Hall JE, et al: For the STRAW 10 Collaborative Group: Executive summary of the Stages of Reproductive Aging Workshop + 10: Addressing the unfinished agenda of staging reproductive aging. Menopause 19 (4):387–395, 2012.

Sinh lý học

Khi các buồng trứng già đi, đáp ứng của chúng đối với hormone tuyến yên gonadotropins kích thích noãn (FSH) và hóc môn luteinizing (LH) giảm, bước đầu gây ra những biểu hiện sau đây:

Sự rụng trứng kép và các sự kiện ngoài giai đoạn hoàng thể (LOOP) (ví dụ sự hình thành sớm của nang noãn do tăng nhanh FSH trong giai đoạn hoàng thể) xảy ra và thỉnh thoảng gây ra nồng độ estradiol ở mức cao hơn bình thường. Số lượng nang noãn khỏe mạnh giảm; cuối cùng, các nang còn lại không phản ứng, và buồng trứng sản sinh ra rất ít estradiol. Estrogen cũng được sản xuất bởi các mô ngoại vi (ví dụ, chất béo, da) từ androgens (ví dụ androstenedione, testosterone). Tuy nhiên, tổng nồng độ estrogen giảm dần trong suốt 5 năm sau khi mãn kinh, và estrone thay thế estradiol như là loại estrogen phổ biến nhất.

Quanh thời kỳ mãn kinh, nồng độ androstenedione giảm xuống một nửa.

Sự sụt giảm testosterone, bắt đầu ở tuổi trưởng thành trẻ, không tăng tốc trong thời kỳ mãn kinh vì mô đệm của buồng trứng sau mãn kinh và tuyến thượng thận tiếp tục tiết ra một lượng đáng kể.

Mức độ chất ức chế buồng trứng và estrogen giảm, làm ức chế sự phóng thích LH và FSH tuyến yên, gây tăng đáng kể mức LH và FSH trong tuần hoàn.

Suy buồng trứng sớm (suy giảm buồng trứng nguyên phát) là ngừng kinh nguyệt do giảm chức năng của buồng trứng không do bệnh trước tuổi 40. Các yếu tố đóng góp chủ yếu là di truyền hoặc tự miễn dịch.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Những thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt thường bắt đầu trong thời kỳ tuổi 40 của phụ nữ, với sự thay đổi về độ dài chu kỳ kinh nguyệt. Các chu kỳ kinh nguyệt kéo dài liên lúc hơn ≥ 7 ngày so với bình thường xác định tình trạng chuyển mãn kinh sớm. Bỏ qua ≥ 2 chu kỳ xác định tình trạng chuyển mãn kinh muộn.

Các biến động đấng kể của nồng độ estrogen có thể góp phần gây ra các triệu chứng và dấu hiệu tiền mãn kinh khác như

  • Căng vú

  • Thay đổi lượng máu kinh

  • Thay đổi tâm trạng

  • Cơn đau nửa đầu cấp liên quan đến kinh nguyệt

Các triệu chứng có thể kéo dài từ 6 tháng đến > 10 năm và dao động từ nhẹ đến trầm trọng.

Vận mạch

Cơn bốc hỏa (nóng từng đợt, ra mồ hôi ban đêm) do mất ổn định vận mạch ảnh hưởng từ 75 đến 85% phụ nữ và thường bắt đầu trước khi ngừng kinh nguyệt. Triệu chứng vận mạch kéo dài trung bình 7,4 năm và có thể kéo dài > 10 năm ở một số nhóm phụ nữ1).

Phụ nữ cảm thấy ấm hoặc nóng và có thể đổ mồ hôi, đôi khi rất nhiều; tăng nhiệt độ lõi cơ thể Da, đặc biệt là mặt, đầu và cổ, có thể trở nên đỏ và ấm. Cảm giác này thay đổi theo từng giai đoạn, có thể kéo dài từ 30 giây đến 5 phút, sau đó có thể ớn lạnh Các cảm giác này có thể biểu hiện vào đêm như đổ mồ hôi ban đêm

Cơ chế của các đợt nóng không rõ, nhưng chúng được cho là kết quả của những thay đổi trong trung tâm điều hoà nhiệt nằm ở vùng dưới đồi. Phạm vi nhiệt độ lõi cơ thể của người phụ nữ giảm xuống; kết quả là, sự gia tăng nhiệt độ cơ thể rất ít của lõi cơ thể có thể kích hoạt sự giải phóng nhiệt như một cơn nóng.

Âm đạo

Các triệu chứng âm đạo bao gồm khô, quan hệ khó, và đôi khi có kích ứng và ngứa. Khi estrogen giảm sản xuất, niêm mạc âm hộ và âm đạo trở nên mỏng hơn, khô hơn, dễ tổn thương và ít đàn hồi hơn, và các nếp nhăn âm đạo bị mất.

Hội chứng niệu sinh dục của mãn kinh bao gồm các triệu chứng và dấu hiệu do sự thiếu hụt estrogen như

  • Teo âm đạo và âm hộ

  • Tiểu són

  • Tiểu khó

  • Viêm đường tiết niệu thường xuyên

Thần kinh - tâm thần

Thay đổi thần kinh tâm thần (ví dụ giảm tập trung, mất trí nhớ, triệu chứng trầm cảm, lo lắng) có thể thoáng qua cùng với mãn kinh.

Mồ hôi đổ thường xuyên ban đêm có thể góp phần làm mất ngủ, mệt mỏi, khó chịu, và tập trung không tốt bởi giấc ngủ bị rối loạn.

Tim mạch

Sau khi mãn kinh, nồng độ cholesterol lipoprotein mật độ thấp (LDL) tăng ở phụ nữ. Các nồng độ cholesterol lipoprotein mật độ cao (HDL) vẫn còn tương tự như trước khi mãn kinh. Sự thay đổi nồng độ LDL có thể phần nào giải thích tại sao xơ vữa động mạch và do đó bệnh mạch vành trở nên phổ biến hơn ở phụ nữ sau mãn kinh. Tuy nhiên, liệu những thay đổi này có phải do lão hóa hay do sự giảm mức estrogen sau mãn kinh vẫn chưa rõ ràng. Cho đến khi mãn kinh, nồng độ estrogen cao có thể bảo vệ chống lại bệnh động mạch vành.

Cơ xương khớp

Có đến 20% mật độ xương bị mất trong 5 năm đầu sau mãn kinh. Sau giai đoạn mất xương nhanh này, tuổi liên quan đến tỷ lệ mất xương ở phụ nữ tương tự so với nam giới.

Các triệu chứng khác

Thời kỳ mãn kinh là một giai đoạn sức khoẻ bình thường trong cuộc đời phụ nữ, nhưng mỗi phụ nữ đều có một trải nghiệm riêng.

Chất lượng cuộc sống có thể giảm nếu các triệu chứng nặng lên hoặc nếu triệu chứng mãn kinh ít hơn, như đau khớp và đau, tiến triển. Đối với một số phụ nữ (ví dụ những người có tiền sử bị lạc nội mạc tử cung, đau bụng kinh, rong kinh hội chứng tiền kinh nguyệt, hội chứng có kinh đau nửa đầu) thì chất lượng cuộc sống sẽ cải thiện sau mãn kinh.

Tham khảo về các triệu chứng và dấu hiệu

  • 1. Avis NE, Crawford SL, Greendale G, et al: Thời gian của các triệu chứng vận mạch lúc mãn kinh trên giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh (Nghiên cứu sức khỏe phụ nữ quốc gia). JAMA Intern Med 175 (4):531–539, 2015. doi: 10.1001 / jamainternmed.2014.8063.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

  • Ít khi đo nồng độ FSH

Chẩn đoán mãn kinh dựa vào lâm sàng. Tiền mãn kinh có thể xuất hiện, nếu phụ nữ ở trong độ tuổi thích hợp và có một số các triệu chứng và dấu hiệu của tiền mãn kinh. Tuy nhiên, nên cân nhắc mang thai. Thời kỳ mãn kinh được xác nhận khi phụ nữ không có kinh nguyệt trong 12 tháng.

Khám vùng chậu được thực hiện; sự có mặt của teo âm hộ và âm đạo hỗ trợ chẩn đoán. Bất kỳ phát hiện bất thường nào được đánh giá (xem Các khối u vùng tiểu khung : Đánh giá).

Có thể xét nghiệm nồng độ FSH, nhưng xét nghiệm này hiếm khi cần thiết, ngoại trừ ở phụ nữ đã cắt bỏ tử cung và ở những phụ nữ trẻ hơn tuổi mãn kinh bình thường. Nồng độ cao xác nhận mãn kinh.

Những phụ nữ sau mãn kinh nên được sàng lọc loãng xương:

Điều trị

  • Thay đổi lối sống

  • Thuốc bổ sung và thay thế

  • Liệu pháp hormone

  • Các thuốc hoạt tính thần kinh khác

Điều trị mãn kinh là điều trị triệu chứng (ví dụ, để làm giảm cơn nóng và triệu chứng do teo âm hộ âm đạo). Điều trị cũng có thể bao gồm việc ngăn ngừa mất xương.

Thảo luận về các nguyên nhân sinh lý của thời kỳ mãn kinh, các triệu chứng và dấu hiệu có thể có với phụ nữ giúp họ kiểm soát những thay đổi xảy ra.

Liệu pháp hormone (ví dụ, estrogen, progestogen, hoặc cả hai) là cách điều trị hiệu quả nhất cho các triệu chứng mãn kinh.

Các lựa chọn không hormone cho thấy có hiệu quả trong các thử nghiệm ngẫu nhiên để điều trị các triệu chứng vận mạch bao gồm điều trị hành vi nhận thức và thôi miên (1).

Thay đổi lối sống

Đối với dấu hiệu bốc hoả, những điều sau đây có thể giúp ích:

  • Tránh các yếu tố kích thích (ví dụ như đèn sáng chói, chăn bông, phản ứng cảm xúc có thể dự đoán)

  • Làm mát môi trường (ví dụ, giảm nhiệt, sử dụng quạt)

  • Mặc quần áo nhiều lớp có thể tháo ra khi cần thiết

Chất bôi trơn và chất làm ẩm âm đạo khi quan hệ giúp làm giảm sự khô da âm đạo. Thường xuyên quan hệ tình dục hoặc kích thích âm đạo bằng cách khác giúp duy trì chức năng âm đạo.

Thuốc bổ sung và thay thế

Cohosh đen, các chế phẩm thảo dược khác và các sản phẩm thực phẩm chức năng dường như không hữu ích. Protein từ đậu nành đã được nghiên cứu với kết quả hỗn hợp; tuy nhiên, một sản phẩm đậu nành, S-equol, đã được báo cáo là làm giảm các cơn bốc.

Sử dụng các bài tập thể dục đều đặn, thở theo nhịp (thở chậm, thở sâu), hoặc kỹ thuật thư giãn để giảm cơn nóng đã có kết quả lẫn lộn, mặc dù kỹ năng tập thể dục và thư giãn có thể cải thiện giấc ngủ. Châm cứu cũng đã có kết quả khác nhau.

Thuốc thần kinh

Trong những thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng được thiết kế tốt, các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs), ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRIs), và gabapentin đã được chứng minh là có hiệu quả vừa phải trong việc làm giảm các cơn bốc hỏa. Một liều thấp của paroxetine có thể được sử dụng đặc hiệu cho triệu chứng bốc hoả. Tuy nhiên, tất cả các loại thuốc này ít hiệu quả hơn so với liệu pháp hormone.

Tham khảo điều trị

Liệu pháp Hormone

Liệu pháp nội tiết ( estrogen, progestogen, hoặc cả hai) là cách điều trị hiệu quả nhất cho các triệu chứng mãn kinh (1). Nó được sử dụng để giảm nhẹ các cơn bốc hoả vừa đến nặng, và khi có cả estrogen sẽ làm giảm luôn các triệu chứng do teo âm hộ và âm đạo.

Liệu pháp hóc môn cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhiều phụ nữ bằng cách làm giảm các triệu chứng nhưng không cải thiện được chất lượng cuộc sống cho những phụ nữ không có triệu chứng và do đó không áp dụng cho tất cả phụ nữ sau mãn kinh.

Nếu điều trị bằng hóc môn là cần thiết để kiểm soát các triệu chứng mãn kinh, bác sĩ lâm sàng nên xác định loại thuốc, liều, đường dùng và thời gian thích hợp nhất dựa trên mục tiêu điều trị và rủi ro sức khoẻ cá nhân. Các lợi ích và tác hại tiềm ẩn do điều trị bằng nội tiết tố nên được đánh giá theo định kỳ.

Đối với phụ nữ < 60 tuổi hoặc đã trải qua < 10 năm mãn kinh, lợi ích tiềm năng của liệu pháp hóc môn có thể nhiều hơn khả năng gây hại. Nếu những phụ nữ như vậy có nguy cơ bị mất xương hoặc bị gãy xương, liệu pháp hóc môn sẽ làm giảm sự mất xương và tỉ lệ gãy xương và có thể được sử dụng ở những phụ nữ không phải là những người là ứng viên cho các thuốc đầu tay chữa loãng xương

Khởi đầu điều trị bằng nội tiết tố ở phụ nữ > 60 tuổi hoặc > 10 đến 20 năm đã mãn kinh không được khuyến cáo. Ở những phụ nữ này, những tác hại tiềm ẩn của liệu pháp hóc môn (như bệnh động mạch vành, đột quỵ, huyết khối tắc nghẽn tĩnh mạch, chứng sa sút trí tuệ) có thể vượt quá những lợi ích tiềm ẩn.

Trừ khi gợi ý lâm sàng là rõ ràng, các khuyến cáo được chia sẻ theo

  • Những lợi ích và tác hại tiềm ẩn của liệu pháp hóc môn có thể phức tạp.

  • Lợi ích và thiệt hại tổng thể là mong manh.

  • Rủi ro về sức khoẻ có thể thay đổi theo thời gian.

Lựa chọn liệu pháp hormone

Đối với phụ nữ đã cắt tử cung, estrogen được sử dụng đơn độc. Dạng đường uống, qua da (miếng dán, kem dưỡng da, xịt, hoặc gel), hoặc dạng đường âm đạo có thể được sử dụng. Điều trị nên bắt đầu với liều thấp nhất; liều sẽ tăng lên mỗi 2 đến 4 tuần nếu cần. Liều thay đổi tùy theo sự chuẩn bị. Liều thấp bao gồm

  • 0,3 mg uống 1 lần/ngày ( estrogen conjugated equine hoặc tổng hợp)

  • 0,5 mg uống 1 lần/ngày (estradiol đường uống)

  • 0,05 đến 0,10 mg một lần/ngày (miếng dán estradiol)

Phụ nữ có tử cung nên được cho thêm progestogen bổ sung cho estrogen estrogen không đối lập làm tăng nguy cơ ung thư niêm mạc tử cung. Các progestogen kết hợp với estrogen liên tục (tức là hàng ngày) hoặc tuần tự (12 đến 14 ngày liên tiếp trong mỗi 4 tuần). Liều là

  • Medroxyprogesterone acetate: 2,5 mg dùng hàng ngày và 5 mg cho sử dụng tuần tự

  • Progesterone vi thể (tự nhiên hơn loại progesterone tổng hợp): 100 mg sử dụng hàng ngày và 200 mg cho sử dụng tuần tự

Chảy máu do ngưng progestogen ít có khả năng với liệu pháp liên tục.

Các sản phẩm kết hợp của estrogen và progestogen có sẵn như

  • Viên (ví dụ: 0,3 mg conjugated equine estrogen phối hợp 1,5 mg medroxyprogesterone acetate một lần/ngày hoặc 0,1 mg norethindrone acetate phối hợp với estradiol 0,5 mg hoặc 1 mg một lần/ngày)

  • Các miếng dán (ví dụ 0,045 mg estradiol phối hợp với 0,015 mg levonorgestrel một lần/ngày).

Một lựa chọn khác là phối hợp estrogen/bazedoxifene (một modulator thụ thể estrogen chọn lọc [SERM] bảo vệ tử cung mà không cần dùng progestogen). Lợi ích của phối hợp estrogen/bazedoxifene bao gồm giảm căng vú và tỷ lệ gây chảy máu thấp hơn so với các hình thức trị liệu bằng hormone khác; tỷ lệ cũng tương tự như với giả dược. Mật độ vú và tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú không tăng ở phụ nữ được theo dõi trong 2 năm (2). Sự kết hợp estrogen/bazedoxifene có thể làm giảm các cơn bốc hoả, cải thiện giấc ngủ, ngăn ngừa mất xương và làm giảm các triệu chứng teo âm đạo. Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tương tự như estrogen, nhưng kết hợp estrogen/bazedoxifene dường như để bảo vệ niêm mạc tử cung và tiềm ẩn là vú. Bazedoxifene như là một loại thuốc đơn độc không có sẵn ở Mỹ.

Khi các triệu chứng chỉ có ở âm đạo, liều thấp estrogen đặt âm đạo được ưa thích hơn. Các dạng tại chỗ (ví dụ kem, viên nén hoặc vòng âm đạo) có thể có hiệu quả hơn đối với các triệu chứng âm đạo so với dạng uống. Các viên thuốc âm đạo và vòng có chứa estradiol với liều thấp (ví dụ: 10 mcg cho viên nén, 7,5 mcg đối với vòng) cung cấp estrogen vào hệ thống tuần hoàn ít hơn. Khi estrogen dùng đường âm đạo được sử dụng ở liều thấp nhất được đề nghị thì không cần đến progestogen. Liều cao hơn của estrogen dùng đường âm đạo có thể cung cấp nhiều estrogen như điều trị bằng đường uống hoặc qua da và, nếu cho phụ nữ vẫn còn tử cung, cần yêu cầu bổ sung progestogen.

Các liệu pháp mới hơn cho chứng quan hệ khó bao gồm:

  • Một SERM (ví dụ, ospemifene đường uống)

  • Dehydroepiandrosterone trong âm đạo (DHEA)

DHEA có thể làm giảm khô âm đạo và các triệu chứng khác của teo âm đạo; nó có sẵn và có hiệu quả để giảm các chứng khó quan hệ do mãn kinh và đang được nghiên cứu để điều trị cho rối loạn chức năng tình dục ở phụ nữ (3).

Progestogen (ví dụ, medroxyprogesterone acetate 10 mg uống một lần/ngày hoặc depot 150 mg tiêm bắp một lần/tháng, megestrol acetate 10 đến 20 mg uống một lần/ngày, progesterone 300 mg ban đêm) đôi khi được sử dụng đơn lẻ để giảm bốc hoả khi estrogen bị chống chỉ định, nhưng chúng không hiệu quả như estrogen đối với những cơn bốc hoả và không làm giảm khô âm đạo Progesterone vi thể có thể dùng liều 100-300 mg vào giờ đi ngủ. Có thể gây buồn ngủ Progesterone vi thể được chống chỉ định ở những phụ nữ bị dị ứng với đậu phộng.

Estrogen liệu pháp có tác dụng tốt đối với mật độ xương và làm giảm tỉ lệ gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh (không phải là những người có loãng xương). Trong một nghiên cứu lớn, liệu pháp hormone giảm tỷ lệ gãy xương xuống 24%. (4). Tuy nhiên, liệu pháp điều trị estrogen (có hoặc không có progestogen) thường không được khuyến cáo là điều trị hàng đầu hoặc dự phòng loãng xương. Khi loãng xương hoặc dự phòng loãng xương là mối quan tâm duy nhất, bác sĩ lâm sàng nên cân nhắc việc bắt đầu điều trị bằng nội tiết tố nếu áp dụng cho

Rủi ro và tác dụng phụ

Rủi ro với liệu pháp estrogen hoặc kết hợp estrogen/progestogen bao gồm:

Nguy cơ ung thư vú bắt đầu tăng lên sau 3 đến 5 năm điều trị kết hợp khi dùng liều chuẩn (ví dụ estrogen kết hợp 0,625 mg và medroxyprogesterone acetate với liều 2,5 mg một lần/ngày). Khi estrogen được sử dụng đơn lẻ, nguy cơ ung thư vú thấp hơn một chút lúc 7 năm qua một nghiên cứu của Sáng kiến sức khoẻ phụ nữ, nhưng lợi ích này dường như hết sau 10 đến 15 năm sử dụng. Tỷ lệ mắc bệnh túi mật và tiểu không tự chủ có thể tăng lên. Nguy cơ của tất cả những rối loạn này rất thấp ở những phụ nữ khỏe mạnh dùng liệu pháp hormone trong một thời gian ngắn sau khi mãn kinh. Phụ nữ lớn tuổi sau mãn kinh (đã mãn kinh > 10 năm hoặc > 60 tuổi khi họ bắt đầu điều trị bằng nội tiết) có nguy cơ cao bị bệnh động mạch vành khi dùng liệu pháp kết hợp. Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch có thể thấp hơn khi dùng liều thấp estrogen qua da.

Liệu pháp estrogen có thể bị chống chỉ định ở những phụ nữ có hoặc có nguy cơ cao bị ung thư vú, đột quỵ, bệnh động mạch vành hoặc huyết khối.

Progestogens có thể có các tác dụng phụ (ví dụ như chướng bụng, căng vú, tăng mật độ vú, đau đầu, tăng LDL); progesterone vi thể dường như ít tác dụng phụ hơn. Progestogen có thể làm tăng nguy cơ huyết khối. Không có dữ liệu an toàn lâu dài cho progestogen.

Trước khi kê toa liệu pháp hormone, bác sĩ lâm sàng nên thảo luận về những rủi ro và lợi ích của nó với phụ nữ.

Các bộ điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (SERMS)

Các SERM tamoxifenraloxifene đã được sử dụng ban đầu với tính chất kháng estrogenic của chúng và không làm giảm các triệu chứng mãn kinh. Tuy nhiên, ospemifene, một SERM, có thể được sử dụng để điều trị quan hệ đau do teo âm đạo nếu phụ nữ không thể sử dụng estrogen hoặc loại thuốc âm đạo (ví dụ, nếu họ bị viêm khớp nghiêm trọng) hoặc nếu họ thích sử dụng một loại thuốc uống khác estrogen; liều 60 mg uống một lần/ngày (5). Ở những phụ nữ mới được điều trị bằng nội tiết tố, những cơn bốc hoả có thể tạm thời tăng lên, nhưng ở hầu hết phụ nữ, các cơn bốc hoả sẽ được giải quyết sau khoảng 6 tuần.

Bazedoxifene được cung cấp với estrogen kết hợp; nó có thể làm giảm bốc hoả, cải thiện giấc ngủ, ngăn ngừa mất xương, và làm giảm các triệu chứng teo âm đạo. Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch thì tương tự như của estrogen, nhưng kết hợp estrotgen/bazedoxifene dường như để bảo vệ niêm mạc tử cung và vú Bazedoxifene như là một thuốc đơn lẻ thì không sẵn có ở Mỹ.

Tham khảo liệu pháp nội tiết tố

  • 1. The NAMS 2017 Hormone Therapy Position Statement Advisory Panel: Tuyên bố 2017 về liệu pháp hormone của Hiệp hộitherapy position statement of The North American Menopause Society. Menopause 24 (7):728–753, 2017. doi: 10.1097 / GME.0000000000000921.

  • 2. Pinkerton JV, Pickar JH, Racketa J, et al: Bazedoxifene/estrogen phối hợp để điều trị triệu chứng mãn kinh và dự phòng loãng xương. Climacteric 15 (5):411–418, 2012. doi: 10.3109 / 13697137.2012.696289.

  • 3. Labrie F, Archer DF, Koltun W, et al: Hiệu quả của dehydroepiandrosterone (DHEA) dùng trong tử cung lên chứng khó giao hợp trung bình đến nặng và khô âm đạo, triệu chứng teo âm hộ âm đạo, và hôi chứng nệu sinh dục khi mãn kinh. Menopause 23 (3): 243-256, 2016. doi: 10.1097 / GME.0000000000000571.

  • 4. Rossouw JE, Anderson GL, Prentice RL, et al: Các nguy cơ và lợi ích của estrogen cộng progestin trên phụ nữ sau mãn kinh khỏe mạnh: Các kết quả nguyên tắc từ nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát của Sáng kiến sức khỏe phụ nữ. JAMA 288 (3):321–333, 2002.

  • 5. Constantine G, Graham S, Portman DJ, et al: Chức năng tình dục của phụ nữ cải thiện với ospemifene trên những phụ nữ sau mãn kinh có teo âm hộ và âm đạo: Kết quả của nghiên cứu ngẫu nhiên dược giả có kiểm soát. Climacteric 18 (2): 226-232, 2015.

Những điểm chính

  • Ở Mỹ, tuổi mãn kinh trung bình là 52.

  • Các triệu chứng mãn kinh có khuynh hướng tối đa trong vài năm trước và năm sau khi mãn kinh (trong thời kỳ tiền mãn kinh), ngoại trừ chứng teo âm hộ và âm đạo, có thể xấu đi theo thời gian.

  • Có đến 20% mật độ xương bị mất trong 5 năm đầu sau mãn kinh, sau đó là tỷ lệ mất xương liên quan đến tuổi thì tương đương như ở nam giới.

  • Coi như là mãn kinh được xác nhận nếu một phụ nữ ở độ tuổi thích hợp và người không mang thai mà không có kinh nguyệt trong 12 tháng.

  • Đối với tình trạng khô âm đạo hoặc chứng khó quan hệ do mãn kinh, khuyến cáo kích thích âm đạo và chất bôi trơn và chất làm ẩm âm đạo của OTC, và nếu chúng không hiệu quả, hãy xem xét liều âm đạo thấp estrogen dạng kem, thuốc viên, hoặc vòng; các lựa chọn khác bao gồm uống ospemifene hoặc suppositories DHEA trong âm đạo

  • Trước khi kê toa liệu pháp hóc môn, hãy nói chuyện với phụ nữ về những lợi ích và những tác hại tiềm ẩn (ví dụ như huyết khối tĩnh mạch sâu, nghẽn mạch phổi, đột quỵ,, ung thư vú, nguy cơ thấp bị bệnh túi mật, tiểu không tự chủ); những tác hại tiềm tàng thì lớn hơn đối với những phụ nữ bắt đầu điều trị bằng nội tiết tố sau tuổi 60 hoặc những người đã có > 10 đến 20 năm mãn kinh.

  • Nếu phụ nữ chọn liệu pháp hoóc môn để giảm bớt bốc hoả, kê toa estrogen phối hợp progestogen hoặc kê toa estrogen / bazedoxifene kết hợp cho những phụ nữ còn tử cung

  • Cá nhân hoá điều trị bằng liệu pháp hóc môn để tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu các tác hại, và định kỳ đánh giá lại các lợi ích và các tác hại.

  • Xem xét các chất SSRIs, SNRIs, và gabapentin như các chất thay thế ít hiệu quả hơn đối với liệu pháp hóc môn để làm giảm sự bốc hoả

  • Các lựa chọn không nội tiết hiệu quả bao gồm điều trị hành vi nhận thức và thôi miên.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG