MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Sinh non

Theo

Julie S. Moldenhauer

, MD, Children's Hospital of Philadelphia

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg1 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2016

Chuyển dạ (cơn co tử cung dẫn đến thay đổi cổ tử cung) bắt đầu trước 37 tuần tuổi thai được xem là sinh non tháng. Các yếu tố nguy cơ bao gồm ối vỡ sớm, tử cung bất thường, nhiễm trùng, suy cổ tử cung, tiền sử sinh non, đa thai, và bất thường rau thai. Chẩn đoán bằng lâm sàng. Các nguyên nhân được xác định và điều trị nếu có thể. Điều trị bao gồm nghỉ ngơi tại giường, thuốc giảm co (nếu có chuyển dạ), corticosteroid (nếu tuổi thai là < 34 tuần), và có thể magnesium sulfate (nếu tuổi thai < 32="" tuần).="" thuốc="" kháng="" sinh="" chống="" liên="" cầu="" được="" dùng="" đến="" khi="" kết="" quả="" cấy="" dịch="" âm="" đạo="" âm="">

Sinh non có thể được kích hoạt bởi

  • Các căn nguyên gây nhiễm trùng tử cung khác từ dưới lên (thường là do Streptococci nhóm B)

  • Bất thường ở thai nhi hoặc rau thai

  • Bất thường ở tử cung

  • Viêm bể thận

  • Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs)

Một số trường hợp nguyên nhân có thể không rõ.

Tiền sử sinh non và thiếu bền vững của cổ tử cung làm tăng nguy cơ.

Chuyển dạ sớm có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết trong não thất ở trẻ sơ sinh; xuất huyết trong não thất có thể dẫn đến khuyết tật về thần kinh (như bại não).

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

Chẩn đoán sinh non được dựa trên các dấu hiệu chuyển dạ và thời gian mang thai.

Cấy dịch âm đạo tìm streptococci nhóm B được thực hiện, và điều trị dự phòng phù hợp được bắt đầu. Xét nghiệm nước tiểu và nuôi cấy nước tiểu được thực hiện để kiểm tra viêm bàng quang và viêm thận. Cấy dịch cổ tử cung được thực hiện để kiểm tra các bệnh lây qua đường tình dục nếu được gợi ý bằng các phát hiện lâm sàng.

Hầu hết phụ nữ có chẩn đoán ban đầu về chuyển dạ sớm đều không tiến triển đến đẻ non.

Điều trị

  • Kháng sinh điều trị streptococci nhóm B, chờ kết quả cấy dịch âm đạo

  • Thuốc giãn cơ tử cung

  • Corticosteroid nếu tuổi thai - gestational age is < 34 tuần

  • Magnesium sulfate nếu tuổi thai < 32 tuần

Nghỉ ngơi tại giường và bù dịch thường được điều trị ban đầu.

Kháng sinh

Kháng sinh có hiệu quả chống lại Streptococci nhóm B được dùng dù kết quả cấy dịch âm đạo âm tính. Các lựa chọn bao gồm:

  • Đối với phụ nữ không dị ứng penicillin: Penicillin G 5 triệu đơn vị truyền tĩnh mạch sau đó 2,5 triệu đơn vị mỗi 4 giờ hoặc ampicillin 2 g tiêm tĩnh mạch và sau đó 1 g mỗi 4 giờ

  • Đối với phụ nữ bị dị ứng penicillin nhưng có nguy cơ mẫn cảm thấp (ví dụ, phát ban muộn với sử dụng trước đó ): Cefazolin 2 g tiêm tĩnh mạch và sau đó 1 g mỗi 8 giờ

  • Đối với phụ nữ bị dị ứng với penicillin và tăng nguy cơ sốc phản vệ (ví dụ: co thắt phế quản, phù mắt, hoặc tụt huyết áp những lần dùng trước, đặc biệt trong vòng 30 phút phơi nhiễm): Clindamycin 900 mg truyền tĩnh mạch mối 8 giờ hoặc erythromycin 500 mg tĩnh mạch mỗi 6 giờ nếu cấy dịch âm đạo có nhạy cảm; nếu cấy kháng thuốc hoặc kết quả không có, vancomycin 1 g truyền tĩnh mạch mỗi 12 giờ

Thuốc giảm co

Nếu cổ tử cung mở rộng, thuốc giảm co (thuốc ngăn chặn các cơn co tử cung) có thể làm chậm thời gian chuyển dạ trong ít nhất 48 giờ để corticosteroid có thể được dùng giúp giảm nguy cơ cho thai nhi. Các thuốc giảm co bao gồm

  • Magnesium sulfate

  • Chẹn kênh canxi

  • Chất ức chế Prostaglandin

Không có thuốc giảm co nào có ưu điểm tuyệt đội; sự lựa chọn nên được cá thể hóa để giảm thiểu các tác động bất lợi.

Magnesium sulfate thường được sử dụng và thường dung nạp tốt.

Thuốc ức chế prostaglandin có thể gây thiểu ối thoáng qua. Chúng được chống chỉ định sau 32 tuần vì chúng có thể gây hẹp hoặc đóng buồng sớm ống động mạch.

Magnesium sulfate tiêm tĩnh mạch cần được xem xét trong thời kỳ mang thai < 32 tuần. Khi dùng thuốc dường như làm giảm nguy cơ rối loạn chức năng thần kinh trầm trọng (ví dụ, do xuất huyết trong não thất), bao gồm bại não, ở trẻ sơ sinh.

Corticosteroid

Nếu thai < 34 tuần, sản phụ được dùng corticosteroid trừ khi việc sinh sắp xảy ra. Một trong những thuốc sau đây có thể được sử dụng:

  • Betamethasone 12 mg tiêm bắp mỗi 24 giờ cho 2 liều

  • Dexamethasone 6 mg tiêm tĩnh mạch mỗi 12 giờ cho 4 liều

Những corticosteroid này làm tăng sự trưởng thành của phổi thai nhi và giảm nguy cơ hội chứng suy hô hấp sơ sinh, xuất huyết nội sọ và tử vong.

Progestin

Một progestin có thể được khuyến cáo trong những lần mang thai trong tương lai đối với những phụ nữ có sinh non để giảm nguy cơ tái phát. Điều trị này được bắt đầu trong 3 tháng giữa và tiếp tục cho đến trước khi sinh.

Những điểm chính

  • Thực hiện các phương pháp nuôi cấy dịch âm đạo với các chủng Streptococcus nhóm B và cấy để kiểm tra khi có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm trùng có thể gây ra sảy thai (ví dụ viêm thận, STD).

  • Điều trị với kháng sinh có hiệu quả kháng lại Streptococci nhóm B trong khi chờ kết quả nuôi cấy.

  • Nếu cổ tử cung mở, điều trị giãn cơ tử cung với magnesium sulfate, thuốc chẹn kênh Ca, hoặc nếu thai nhi ≤ 32 tuần, chất ức chế prostaglandin.

  • Cho dùng corticosteroid nếu tuổi thai < 34 tuần.

  • Xem xét magnesium sulfate nếu thai nhi < 32 tuần.

  • Trong thời kỳ mang thai sau này, hãy cân nhắc cho dùng progestin để tránh tái phát.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

Các video

Xem tất cả
Cách kiểm soát đảo ngược tử cung
Video
Cách kiểm soát đảo ngược tử cung
Các mô hình 3D
Xem tất cả
Sinh đường âm đạo
Mô hình 3D
Sinh đường âm đạo

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG