MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Trẻ Sơ Sinh

Theo

Robert L. Stavis

, PhD, MD,

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg10 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2017
Nguồn chủ đề

Trẻ sơ sinh sinh ra trước 37 tuần tuổi thai được coi là đẻ non

Đẻ non được định nghĩa bởi tuổi thai tại thời điểm trẻ được sinh ra. Trước đây, trẻ sơ sinh cân nặng < 2,5 kg được gọi là đẻ non Mặc dù trẻ đẻ non có xu hướng nhỏ, nhưng định nghĩa dựa trên trọng lượng này không phù hợp vì nhiều trẻ cân nặng < 2,5 kg có thể đã trưởng thành đủ (đủ tháng) hoặc già tháng nhưng nhỏ so với tuổi thai; những trẻ này có đặc điểm hình thể ngoài và bệnh lý khác biệt.

Vào năm 2015, 9,63% số trẻ em sinh ra là đẻ non ở Hoa Kỳ (giảm từ 10,4% năm 2007). Trong số này, 71% là trẻ non muộn và 29% (2,76% số ca sinh) sinh ra ở <34 tuần tuổi thai (1). Trẻ sinh non, thường là non muộn có kích thước của trẻ đủ tháng, vẫn có tỷ lệ bệnh tật và tử vong cao hơn trẻ đủ tháng do sự chưa trưởng thành của cơ thể.

Tuổi thai

Tuổi thai là thời gian kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng của người phụ nữ, thường được tính bằng tuần và ngày. Tuổi mang thai không phải là thực tế tuổi phôi thai của bào thai.

Sinh trước 37 tuần tuổi thai được coi là đẻ non Trẻ sơ sinh non tháng được phân loại tiếp theo là

Trẻ không non tháng được phân loại là

  • Đủ tháng sớm: 37 đến 38 6/7 tuần

  • Đủ tháng: 39 đến 40 6/7 tuần

  • Đủ tháng muộn: 41 đến 41 6/7 tuần

  • Già tháng: ≥ 42 tuần

Trọng lượng cơ thể

Trẻ sơ sinh non tháng có xu hướng nhỏ hơn trẻ sơ sinh đủ tháng. Biểu đồ tăng trưởng của Fenton cung cấp một đánh giá chính xác hơn về sự tăng trưởng so với tuổi thai (xem Hình: Biểu đồ Tăng trưởng Fenton cho trẻ đẻ non và xem Hình: Biểu đồ tăng trưởng của Fenton cho trẻ non tháng).

Trẻ sơ sinh non tháng được phân loại theo cân nặng cơ thể:

  • <1000 g: Trọng lượng sơ sinh cực kỳ thấp (ELBW)

  • 1000 đến 1499 g: Trọng lượng sơ sinh rất thấp (VLBW)

  • 1500 đến 2500 g: Trọng lượng sơ sinh thấp (LBW)

Tham khảo chung

Nguyên nhân

Nguyên nhân đẻ non bao gồm

  • Chủ động

  • Tự phát

Đẻ non chủ động

Trường Chuyên khoa Sản phụ khoa (ACOG) của Hoa Kỳ khuyến cáo nên đẻ sớm chủ động trong các điều kiện như đẻ đa thai có biến chứng, tiền sản giật, Rau tiền đạo/rau cài răng lược, và ối vỡ sớm.

ACOG khuyến cáo nên chủ động sinh non ở 32 tuần tuổi trong những trường hợp đa thai có biến chứng Việc quyết định sinh sớm hơn 32 tuần được thực hiện trên cơ sở từng trường hợp cụ thể để quản lý các biến chứng nặng nề với vả mẹ và thai nhi.

Sinh non tự phát

Ở những bệnh nhân sinh non tự phát có thể xảy ra có hoặc không có yếu tố khởi phát (ví dụ như nhiễm trùng [xem Nhiễm trùng nội mạc tử cungBệnh truyền nhiễm trong khi mang thai], nhau bong non). Có nhiều yếu tố nguy cơ sinh non

Tiền sử sản khoa

Các yếu tố liên quan đến thai phụ hiện tại

Đa thai là một yếu tố nguy cơ sinh non quan trọng; 59% song thai và> 98% đa thai nhiều hơn 2 thai là đẻ non. Trong đó nhiều trẻ sơ sinh rất non tháng; 10,7% sinh đôi, 37% sinh ba, và> 80% đa thai nhều hơn sinh ở <32 tuần (1).

Các yếu tố về kinh tế xã hội

  • Tình trạng kinh tế xã hội thấp

  • Các bà mẹ có trình độ học thức ít

Không rõ vai trò của các yếu tố kinh tế xã hội này có ảnh hưởng như thế nào đến các yếu tố nguy cơ khác (như dinh dưỡng, tiếp cận chăm sóc y tế).

Biến chứng

Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của các biến chứng của trẻ non tháng tăng lên theo độ giảm của tuổi thai. Một số biến chứng (ví dụ viêm ruột hoại tử, bệnh võng mạc do non tháng, loạn sản phế quản phổi, xuất huyết não thất) không phổ biến ở trẻ non tháng muộn.

Hầu hết các biến chứng liên quan đến rối loạn chức năng của hệ thống cơ quan chưa trưởng thành. Trong một số trường hợp, các biến chứng cso thể được điều trị khỏi hoàn toàn; nhưng một rối loạn khác có thể tồn tại vĩnh viễn

Tim mạch

Tỉ lệ chung của các dị tật bẩm sinh cấu trúc tim ở trẻ sơ sinh non tháng là thấp. Các biến chứng tim mạch phổ biến nhất là

Ống động mạch có nhiều khả năng không đóng sau khi sinh ở trẻ sơ sinh non tháng. Tỉ lệ còn tồn ống động mạch kéo dài sau sinh ở trẻ đẻ non tăng cùng với mức độ non của trẻ trẻ; Tồn tại ống động mạch kéo dài xảy ra ở gần một nửa số trẻ sơ sinh < 1750 g sanh khi sinh và khoảng 80% trong số đó < 1000 g Khoảng 1/3 đến một nửa số trẻ sơ sinh có ống động mạch có triệu chứng suy tim. Trẻ sơ sinh non tháng 29 tuần tuổi thai khi sinh có hội chứng suy hô hấp có nguy cơ từ 65% đến 88% đối với còn ống động mạch có triệu chứng. Nếu trẻ sơ sinh ≥ 30 tuần tuổi thai khi sanh, 98% số trẻ có ống động mạch tự đóng vào thời điểm xuất viện.

Hệ thần kinh

Các biến chứng hệ thần kinh bao gồm

Trẻ sinh ra trước khi sinh 34 tuần tuổi có sự phối hợp không đầy đủ về giữa việc bú và nuốt phản xạ dẫn đến nguy cơ nuôi dưỡng tĩnh mạch hoặc cho ăn qua sonde dạ dầy

Tính không trưởng thành của trung tâm hô hấp ở thân não dẫn đến ngừng thở (ngưng thở trung tâm). Ngưng thở cũng có thể do tắc nghẽn thanh quản (ngưng thở tắc nghẽn). Có thể do cả 2 vấn đề (hỗn hợp ngưng thở).

Vùng tế bào mầm quanh não thất (khối tế bào nằm ở phía trên nhân nền thành nên của não thất bên chứa các tế bào phát triển mạnh mẽ và cách mạnh máu nhỏ, tăng tưới máu là tăng nguy cơ xuất huyết xuất huyết não thất). Nhồi máu vùng chất trắng xung quanh (nhuyễn não chất trắng quanh não thất) cũng có thể xảy ra vì những lý do chưa được hiểu rõ. Hạ huyết áp, tưới máu não không đủ hoặc không ổn định với huyết áp đạt đỉnh (khi bơm dịch vào tĩnh mạch nhanh) có thể góp phần gây nhồi máu não hoặc xuất huyết. Tổn thương não chất trắng dẫn đến nguy cơ bại não và chậm phát triển thần kinh.

Trẻ sơ sinh non tháng, đặc biệt là trẻ sơ sinh có tiền sử , viêm ruột hoại tử, thiếu oxy huyết, và xuất huyết não thất và / hoặc xuất huyết não quanh não thất, có nguy cơ chậm phát triển trí tuệ và nhận thức (xem thêm Phát triển trẻ em). Những trẻ sơ sinh này cần được theo dõi cẩn thận trong trong những năm đầu tiên của cuộc đời để xác định sự thiêu hụt về thính giác, thị lực và chậm phát triển thần kinh. Cần chú ý cẩn thận đến các cột mốc phát triển, trương lực cơ, kỹ năng ngôn ngữ, và sự phát triển thể chất (cân nặng, chiều dài, và chu vi đầu). Trẻ sơ sinh bị giảm chức năng thị giác nên được chuyển tới bác sĩ nhãn khoa nhi khoa. Trẻ sơ sinh bị chậm phát triển thần kinh và thính giác (bao gồm tăng trương lực cơ và phản xạ bảo vệ bất thường) nên được chuyển đến các chương trình can thiệp sớm cung các biện pháp hỗ trợ về thể chất, nghề nghiệp và ngôn ngữ. Trẻ sơ sinh có vấn đề phát triển thần kinh nghiêm trọng có thể cần phải được chuyển đến bác sĩ thần kinh nhi khoa.

Mắt

Các biến chứng mắt bao gồm

Phát triển của các mạch máu võng mạc vẫn tiếp tục cho đến gần đủ tháng Sinh non cùng các biện pháp can thiệp điều trị trẻ đẻ non làm gián đoạn quá trình phát triển bình thường của các mạch máu dẫn đến sự phát tiển bất thường của hệ thống mạch máu tại võng mạc gây tổn thương thị giác và dẫn đến mù lòa (ROP). Tỷ lệ ROP tăng tỷ lệ nghịch với tuổi thai. Bệnh thường biểu hiện ở 32 đến 34 tuần tuổi thai.

Tỉ lệ cận thị và lác tăng lên không phụ thuộc vào ROP.

Đường tiêu hóa

Các biến chứng đường tiêu hóa bao gồm

Việc không dung nạp thức ăn là rất phổ biến bởi vì trẻ đẻ non có thể tích dạ dày nhỏ, phản xạ bú mút và nuốt còn kém, nhu động dạ dày và ruột còn kém. Những yếu tố này cản trở khả năng dung nạp thức ăn cả đường miệng và qua xông dạ dày và tạo nguy cơ hít. Khả năng dung nạp thức ăn tăng theo thời gian, đặc biệt khi trẻ sơ sinh có thể được cho ăn.

Viêm ruột hoại tử thường biểu hiện với phân máu, không dung nạp thức ăn bụng chướng và phản ứng. Viêm ruột hoại tử là tình trạng khẩn cấp phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh non tháng. Các biến chứng của viêm ruột hoại tử sơ sinh bao gồm thủng ruột với tràn khí trong ổ bung, tạo áp xe ổ bụng bụng, hẹp ruột, hội chứng ruột ngắn, nhiễm trùng huyết và tử vong.

Nhiễm trùng

Các biến chứng nhiễm trùng bao gồm:

Nhiễm nấm hoặc viêm màng não có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh non tháng cao gấp 4 lần, 25% trẻ rất nhẹ cân có nhiễm trùng Sự gia tăng có thể xảy ra do đặt catheter, đặt ống nội khí quản, da tổn thương và globulin miễn dịch giảm (xem Sinh lý học chu sinh : Chức năng miễn dịch sơ sinh).

Thận

Các biến chứng thận bao gồm

Chức năng thận còn hạn chế, do đó khả năng hấp thu và bài tiết của ống thận đều kém. Nhiễm toan chuyển hóa và chậm tăng trưởng có thể là kết quả từ chức năng thận chưa trưởng thành dẫn đến không bài tiết được cac acid cố định cũng như không tái hấp thu được các protien khoáng chất và hoormon ở thận dẫn đến ảnh hưởng đến sự phát triển cảu xương. Natri và bicarbonate bị mất trong nước tiểu.

Phổi

Các biến chứng về phổi bao gồm:

  • Hô hấp không đảm bảo của đẻ non

  • Bệnh phổi mãn tính ()

Sản xuất chất surfactant thường không đủ để giữ phế nang không bị xẹp lại và xẹp phổi, dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp (bệnh màng trong). Nhiều yếu tố khác có thể góp phần gây suy hô hấp trong tuần đầu tiên sau sinh. Bất kể nguyên nhân, nhiều trẻ sơ sinh cực non và rất non có tình trạng suy hô hấp kéo dài cần can thiệp hỗ trợ (gọi là bệnh Wilson-Mikity, bệnh phổi mãn tĩnh của đẻ non hay thiếu hụt hô hấp ở trẻ đẻ non). Một số trẻ sơ sinh được cai máy thở thành công trong vòng vài tuần; một số khác phát triển bệnh phổi mãn tính (loạn sản phế quản phổi) cần được hỗ trợ hô hấp kéo dài sử dụng gọng mũi thở lưu lượng cao, (CPAP) hoặc hỗ trợ thông khí không xâm lấn khác, hoặc . Hỗ trợ hô hấp có thể được cung cấp oxy khí trời hoặc hỗ trợ oxy. Nếu cần oxy bổ sung, nồng độ oxy thấp nhất có thể đạt độ bão hòa oxy đích từ 90 đến 95% (xem Bảng: Bão hòa oxy đích cho trẻ sơ sinh).

Palivizumab dự phòng cho virut hợp bào hô hấp là rất quan trọng đối với trẻ đẻ non bị bệnh phổi mãn tính.

Các vấn đề về chuyển hóa

Các biến chứng trao đổi chất bao gồm

Hạ đường huyếttăng đường huyết được thảo luận ở nơi khác.

Tăng bilirubin máu xảy ra phổ biến hơn và sớm hơn ở trẻ đẻ non so với trẻ đủ tháng và vàng da nhân não (tổn thương não do tăng bilirubin máu) có thể xảy ra ở nồng độ bilirubin huyết thanh thấp đến 10 mg / dL (170 μmol / L) ở trẻ nhỏ, tình trạng bệnh nặng. Nồng độ bilirubin cao hơn có thể là do cơ chế bài tiết qua gan còn kém, bao gồm kém đưa bilirubin từ huyết thanh về gan, sự liên hợp tại gan với bilirubin diglucuronide kém, và sự bài tiết của nó vào trong mật kém hơn Giảm nhu động ruột cho phép nhiều bilirubin đã được liên hợp bị cắt sự liên hợp trong đường ruột bằng enzym beta-glucuronidase, làm cho bilirubin không liên hợp tăng lên (tăng tái tuần hoàn ruột gan) Ngược lại, việc cho trẻ ăn sớm làm tăng nhu động ruột và làm giảm sự hấp thụ bilirubin và do đó có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của vàng da sinh lý. Đôi khi, kẹp rốn muộn (có một số lợi ích và đang được khuyến cáo) có thể làm tăng nguy cơ tăng bilirubin máu do Hb của trẻ tăng hơn làm tăng giáng hóa Hem và sản xuất nhiều bilirubin hơn.

Bệnh xương chuyển hóa với bệnh loãng xương là phổ biến, đặc biệt ở trẻ sơ sinh cực non. Nguyên nhân là do lượng canxi, phốt pho và vitamin D không được cung cấp đầy đủ, đồng thời bị mất qua nước tiểu do dùng thuốc lợi tiểu và corticosteroid. Sữa mẹ cũng thiếu canxi và phốt pho và cần được bổ xung bằng sữa mẹ tăng cường (fortifier) Bổ sung vitamin D là cần thiết để tối ưu hóa sự hấp thu canxi của ruột và bài tiết qua đường tiểu.

Suy giáp bẩm sinh, đặc trưng bởi thyroxine (T4) thấp và mức hormone kích thích tuyến giáp (TSH) tăng cao , phổ biến hơn ở trẻ đẻ non so với trẻ đủ tháng. Ở trẻ sơ sinh có cân nặng <1500 g, TSH có thể bị trì hoãn trong vài tuần, đòi hỏi phải sàng lọc lặp lại để phát hiện. Suy giáp trạng thoáng qua, có đặc điểm T4 thấp nhưng TSH bình thường, rất phổ biến ở trẻ sơ sinh non tháng; điều trị bằng L-thyroxine là không cần thiết (2).

Tài liệu tham khảo

  • 2. Wassner AJ, Brown RS: Hypothyroidism ở trẻ sơ sinh. Curr Opin Endocrinol Diabetes Obes 20(5): 449–454, 2013. doi: 10.1097 / 01.med.0000433063.78799.c2.

Điều hòa thân nhiệt

Điều hòa thân nhiệt có những biến chứng sau

Trẻ sơ sinh non tháng có tỷ lệ bề mặt cơ thể cao so với khối lượng. Do đó, khi tiếp xúc với nhiệt độ môi trường thấp hơn nhiệt độ môi trường tối ưu, chúng nhanh chóng mất nhiệt và khó giữ nhiệt độ cơ thể. Môi trường nhiệt độ tối ưu là nhiệt độ môi trường mà khi đó nhu cầu trao đổi chất (tiêu tốn năng lượng) để duy trì nhiệt độ cơ thể bình thường (36.5 đến 37.5 ° C trực tràng) là thấp nhất.

Chẩn đoán

  • Tiền sử sản khoa và các thông số sinh lý sau sinh

  • Siêu âm thai

  • Xét nghiệm sàng lọc cho các biến chứng

Khi chu kỳ kinh nguyệt đều đặn và được ghi chép lại đầy đủ thì tiền sử kinh nguyệt được sử dụng để tính tuổi thai là rất chính xác Kết quả siêu âm thai trong thai kỳ thứ nhất cho phép ước tính tuồi thai một cách chĩnh xác nhất Ước tính tuổi thai trên siêu âm ở thai kỳ thứ 2 và thứ 3 sẽ không chính xác vì vậy không dùng đề ước tính tuổi thai. Khi đó kết quả siêu âm ở thai kỳ thứ nhất cần được xem lại để ước tính tuổi thai. Sau khi sinh, khám đặc điểm của trẻ sơ sinh cũng cho phép các bác sĩ lâm sàng ước lượng tuổi thai, có thể được khẳng định bằng Điểm Ballard.

Cùng với các xét nghiệm thích hợp cho bất kỳ vấn đề hoặc rối loạn nào được xác định, đánh giá thường quy bao gồm đo độ bão hòa oxy, công thức máu, điện giải, bilirubin, nuôi cấy máu, canxi huyết thanh, phosphatase kiềm và phốt pho (để kiểm tra bệnh loãng xương của trẻ đẻ non), thính giác, siêu âm qua thóp (để kiểm tra xuất huyết trong não thất và nhuyễn não chất trắng quanh não thất) và sàng lọc bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non do bác sỹ chuyên khoa mắt thực hiện. Trọng lượng, chiều dài và chu vi đầu cần được vẽ trên biểu đồ tăng trưởng được theo dõi hàng tuần

Giống như trẻ sơ sinh lớn hơni, các xét nghiệm sàng lọc thông thường được thực hiện từ 24 đến 48 giờ. Không giống như trẻ đủ tháng, trẻ sơ sinh non tháng, đặc biệt là trẻ cực non, có tỷ lệ dương tính giả cao3). Tăng nhẹ một số axit amin, xét nghiệm acylcarnitine profile có thể bình thường, tăng nhẹ 17-hydroxyprogesterone và xét nghiệm T4 hơi thấp (với TSH bình thường) Trẻ sơ sinh cực non và rất non có nguy cơ biểu hiện suy giáp trạng bẩm sinh muộn hơn. Vì vậy cần được kiểm tra định kỳ lặp lại.

X-quang, thường thu được vì những lý do khác, có thể cho thấy trẻ có loãng xương và / hoặc các vết gãy xương không mong muốn khác. Quét DXA và chụp quét siêu âm định lượng có thể phát hiện tình trạng loãng xương ở trẻ. Tuy nhiên, không được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng.

Tham khảo chẩn đoán

  • 3. Clark RH, Kelleher AS, Chace DH, Spitzer AR: Tuổi sinh và tuổi khi lấy mẫu ảnh hưởng đến cấu tạo chuyển hóa ở trẻ sơ sinh non tháng. Khoa nhi 134 (1): e37-e46, 2014. doi: 10.1542 / peds.2014-0329.

Đẻ non, rất non và cực non

Trẻ đẻ non tháng là trẻ sinh ra trước tuổi thai 34 tuần. Trẻ rất non là sinh từ 28 đến 31 6/7 tuần. Trẻ cực non là sinh <28>

Biến chứng

Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của các biến chứng của trẻ sơ sinh non tháng tăng cùng với độ giảm của tuổi thai Một số biến chứng (ví dụ:, viêm ruột hoại tử, bệnh võng mạc của trẻ đẻ non, , xuất huyết não thất) xảy ra chủ yếu ở trẻ sơ sinh được sinh ở <34 tuần.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Trẻ đẻ non thường nhỏ, cân nặng thường < 2,5 kg, và có da mỏng, bóng và hồng thông qua đó dễ nhìn thấy các tĩnh mạch dưới da Có ít mỡ dưới da, tóc, hay sụn tai ngoài. Vận động tự nhiên và trương lực cơ giảm, và các chi cực không được giữ ở vị trí gấp điển hình như trẻ đủ tháng Ở trẻ trai, bìu có thể có ít nếp nhăn, và tinh hoàn có thể chưa xuồng đến hạ nang Ở trẻ gái, môi lớn chưa trùm kín môi nhỏ Các phản xạ phát triển ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tuổi thai Phản xạ Moro bắt đầu từ 28 đến 32 tuần tuổi và được thiết lập tốt đến 37 tuần. Phản xạ cầm nắm bắt đầu từ 28 tuần và được hình thành tốt ở 32 tuần. Phản xạ trương lực cổ bắt đầu từ 35 tuần và rõ nhất ở thời điểm sau sinh 1 tháng.

Đánh giá

  • Điều trị tại đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh (NICU)

  • Sàng lọc các biến chứng

Giám sát và sàng lọc trong NICU

Khám sức định kỳ cho trẻ đẻ non là rất quan trọng trong việc theo dõi sự tiến triển của trẻ và phát hiện ra các vấn đề mới (ví dụ như các vấn đề hô hấp, vàng da). Đánh giá trọng lượng của trẻ thường xuyên là cần thiết để điều chỉnh liều lượng thuốc cũng như nuôi dưỡng trẻ.

  • Tăng trưởng và dinh dưỡng: Trọng lượng cần được theo dõi chặt chẽ, đặc biệt trong những ngày đầu sau sinh khi có sự bài tiết của khối lượng dịch ngoại bào; mất nước với tình trạng tăng natri máu có thể phát triển. Trọng lượng, chiều dài và chu vi đầu cần được đánh giá hàng tuần và vẽ lên biểu đồ tăng trưởng.

  • Cân bằng điện giải: định lượng điện giải đồ huyết thanh, glucose, canxi, và phosphate trong huyết thanh, đặc biệt ở trẻ nuôi dưỡng tĩnh mạch (ví dụ trẻ đẻ rất non và cực non).

  • Tình trạng hô hấp: Theo dõi bão hòa oxy và thỉnh thoảng kiểm traCO2 bằng máy đo qua da hoặc đo lưu lượng khí lưu thông liên tục DCO2 hoặc kiểm tra khi máu động mạch hay mao dẫn khi cần

  • Ngưng thở và nhịp tim chậm: Theo dõi tim mạch thương được tiến hành liên tục cho đến khi xuất viện.

  • Các bất thường về huyết học: công thức máu, số lượng hồng cầu lưới, đên số lượng các tế bào thành phần được tiến hành theo từng giai đoạn để phát hiện các bất thường

  • Tăng bilirubin máu: đo nồng độ bilirubin qua da và / hoặc trong huyết thanh đẻ phát hiện các bất thường.

  • Nhiễm trùng toàn thân: công thức máu, CRP, nuôi cấy máu, và đôi khi xét nghiệm procalcitonin để phát hiện sớm bệnh nhiễm trùng sơ sinh.

  • Nhiễm trùng thần kinh: Chọc dò thắt lưng thường được chỉ định cho trẻ sơ sinh có dấu hiệu rõ ràng về nhiễm trùng và / hoặc có triệu chứng thần kinh như co giật, cấy máu dương tính, hoặc nhiễm trùng không đáp ứng với điều trị kháng sinh.

  • Xuất huyết não thất: Siêu âm qua thóp sàng lọc được chỉ định từ 7 đến 10 ngày sau sinh ở trẻ non tháng <32 tuần tuổi và ở trẻ sơ sinh non > 32 tuần có các tình trạngnặng (huyết định không ổn định, toan chuyển hóa...).

Xuất huyết não thất (IVH) ở trẻ đẻ cực non thường không có triệu chứng. Siêu âm sàng lọc cho tất cả trẻ đẻ non này là cần thiết. Tỷ lệ xuất huyết trong não thất giảm khi tuổi thai tăng lên, vì vậy việc kiểm tra sàng lọc ở trẻ sơ sinh> 32 tuần không được chỉ định thường xuyên trừ các trường hợp có nghi ngờ Hầu hết xuất huyết não xảy ra trong tuần đầu tiên sau sinh, và trừ khi có dấu hiệu lâm sàng của xuất huyết, thời gian chỉ định siêu âm sàng lọc tốt nhất là từ 7 đến 10 ngày tuổi. Trẻ đẻ cực non có nguy cơ nhuyễn não quanh chất trắng, thường phát triển ở giai đoạn muộn của thời kỳ sơ sinh (có hoặc không có xuất huyết não kèm theo) nên cần siêu âm sàng lọc vào tuần thứ 6 sau sinh Trẻ sơ sinh với xuất huyết não thất mức độ trung bình hoặc nặng nên theo dõi đo chu vi đầu và siêu âm qua thóp định kỳ để phát hiện và theo dõi nguy cơ não úng thủy; không có chỉ định theo dõi siêu âm thường xuyên với bệnh nhân có xuất huyết não thất mức độ nhẹ

Các kiểm tra sau

Việc sàng lọc bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non được khuyến cáo cho trẻ sinh ra ≤ 1500 g hoặc ≤ 30 tuần tuổi thai hoặc với trẻ lớn hơn và trưởng thành hơn nhưng có giai đoạn lâm sàng bệnh nặng. Khám đầu tiên được thực hiện theolịch dựa trên tuổi thai của trẻ sơ sinh (xem phần Bảng sàng lọc bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non). Khám định kỳ thường được lặp lại ở khoảng cách từ 1 đến 3 tuần một lần tùy thuộc vào kết quả ban đầu và tiếp tục cho đến khi võng mạc trưởng thành. Một số trẻ được kiểm tra sàng lọc sau khi trẻ xuất viện. Việc sử dụng chụp võng mạc kỹ thuật số là một phương pháp thay thế cho việc kiểm tra và theo dõi định kỳ ở những khu vực mà bác sỹ chuyên khoa không thường xuyên có mặt.

Bảng
icon

Sàng lọc bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non

Tuổi khi sinh

Tuổi thai * ở lần khám đầu tiên

22-27 tuần

31 tuần

28 tuần

32 tuần

29 tuần

33 tuần

30 tuần

34 tuần

* Tuổi sau kinh cuối.

Được điều chỉnh từ Fierson WM, American Academy of Pediatrics Section on Ophthalmology, American Academy of Ophthalmology, American Association for Pediatric Ophthalmology and Strabismus, American Association of Certified Orthoptists: Kiểm tra sàng lọc trẻ sơ sinh non tháng cho bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non. Khoa nhi131(1):189–195, 2013. doi: 10.1542 / peds.2012-2996.

Vì trẻ sơ sinh có nguy cơ bị ngưng thở, bão hòa oxy máu giảm và nhịp tim chậm trong khi đang ngồi trên ghế xe, Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ hiện khuyến cáo rằng trước khi xuất viện, tất cả trẻ sơ sinh đều được đo độ bão hòa oxy theo dõi từ 90 đến 120 phút khi ngồi trong ghế xe mà họ sẽ sử dụng sau khi xuất viện. Tuy nhiên, không có tiêu chí nào được thông qua để vượt qua hoặc không vượt qua bài kiểm tra, và một báo cáo gần đây của Hiệp hội Nhi khoa Canada (CPS) cho thấy việc kiểm tra chỗ ngồi của xe hơi có khả năng tái sản xuất kém và không dự đoán nguy cơ tử vong hoặc chậm phát triển thần kinh. Do đó, Hiệp hội nhi khoa Canada không khuyến cáo kiểm tra thường xuyên bài kiểm tra với ghế oto trước khi xuất viện (4). Với những quan ngại về kiểm tra chỗ ngồi của xe hơi, cách tiếp cận thông thường để đi xe hơi là dành cho trẻ sơ sinh non tháng mới xuất viện được quan sát bởi người lớn không lái xe trong suốt chuyến đi cho đến khi trẻ sơ sinh đến ngày sự sinh vẫn duy trì được khả năng chịu đựng được trong ghế xe hơi. Vì màu sắc của bé cần phải được quan sát, chuyến đi nên được giới hạn trong giờ ban ngày. Các chuyến đi dài nên được chia thành các đoạn 45 đến 60 phút để trẻ sơ sinh có thể được đưa ra khỏi chỗ ngồi của xe hơi và thay đổi vị trí.

Sau khi xuất viện, trẻ sơ sinh cực kỳ non tháng và trẻ non tháng nên được theo dõi cẩn thận cẩn thận về sự phát triển của thần kinh và sớm tiếp cận các chương trình can thiệp khi cần thiết để điều trị về thể chất, nghề nghiệp và ngôn ngữ.

Tham khảo đánh giá

Tiên lượng

Tiên lượng thay đổi theo sự biểu hiện và mức độ nghiêm trọng của biến chứng, nhưng thường tỷ lệ tử vong và khả năng biến chứng giảm đáng kể khi tuổi thai và cân nặng khi sinh tăng lên (xem Hình: Sự sống sót và sống sót không có di chứng nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh cực nhẹ cân).

Sự sống sót và sống sót không có di chứng nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh cực nhẹ cân

Quan sát và tỷ lệ sống sót được quan sát và tối đa (trên cùng) và tỉ lệ sống sót mà không có biến chứng nặng (đáy) ở trẻ sơ sinh có cân nặng cực thấp (Trích từ Tyson JE, Parikh NA, Langer J, et al: Chăm sóc chuyên sâu cho trẻ sơ sinh cực kỳ di chuyển vượt quá tuổi thai. The New England Journal of Medicine 358:1672–81, 2008.)

Sự sống sót và sống sót không có di chứng nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh cực nhẹ cân

Tỷ lệ tàn tật của sinh một so với đa thai ở trẻ đẻ non.

Tỷ lệ khuyết tật tăng cùng với sự non trẻ ngày càng tăng. Đối với trẻ đẻ non trước 25 tuần tuổi thai, tỷ lệ tàn tật cho sinh đa thai cao hơn so với ở sinh một (A) và trong các trường hợp đa thai, trẻ sinh ra sau có tỷ lệ di chứng tàn tật cao gấp 2 lần so với trẻ ra đầu (B ). (Được chuyển thể từ Gnanendran L, Bajuk B, Oei J, và các tác giả khác: Kết quả phát triển thần kinh của các đơn vị đẻ non, cặp song sinh và các thai kỳ cao hơn: nghiên cứu đoàn hệ dựa vào dân số. Archives of Disease in Childhood–Fetal and Neonatal Edition 0: F1-F9, 2014.)

Tỷ lệ tàn tật của sinh một so với đa thai ở trẻ đẻ non.

Điều trị

  • Chăm sóc hỗ trợ

Các rối loạn đặc hiệu được điều trị như được thảo luận ở những nơi khác trongThe Manual. Chăm sóc hỗ trợ chung cho trẻ sơ sinh non tháng được cung cấp tốt nhất trong đơn vị hồi sức sơ sinh hoặc đơn vị chăm sóc đặc biệt với sự chú ý đảm bảo nhiệt độ môi trường, sử dụng lồng ấp điều khiển chế độ tự động (servo) Tuân thủ rửa tay trước và sau khi chăm sóc bệnh nhân. Trẻ sơ sinh được theo dõi liên tục về nguy cơ ngưng thở, nhịp tim chậm, và thiếu máu cho đến 34,5 hoặc 35 tuần.

Cha mẹ nên được khuyến khích đến thăm, chăm sóc và tương tác với trẻ sơ sinh càng nhiều càng tốt trong những giai đoạn khó khăn của tình trạng sức khoẻ của trẻ sơ sinh. Sự tiếp xúc da kề da giữa trẻ sơ sinh và người mẹ (chăm sóc kangaroo) có lợi cho sức khoẻ của trẻ sơ sinh và tạo thuận lợi cho sự liên kết mẹ con. Điều này là khả thi và an toàn ngay cả khi trẻ sơ sinh được hỗ trợ bởi các máy thở và truyền dịch.

cho ăn

Việc cho trẻ ăn phải dùng ống thông dạ dày cho đến sự phối hợp mút, nuốt và thở được nhịp nhàng vào khoảng 34 tuần tuổi thai, vào thời điểm đó cho bú mẹ được khuyến khích mạnh mẽ. Hầu hết trẻ sơ sinh non tháng đều dung nạp sữa mẹ, ngoài ra sữa mẹ còn cung cấp kháng thể, các yêu tố tăng trưởng mà không thể có được từ sữa công thức Tuy nhiên, sữa mẹ không cung cấp đủ lượng canxi, photpho và protein cho trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (nghĩa là, < 1500 g), những trẻ này cần được cung cấp sữa mẹ tăng cường fortifier Ngoài ra, có thể sử dụng các công thức cho trẻ sơ sinh đặc biệt có chứa 20 đến 24 kcal / oz (2,8 đến 3,3 joules / mL).

Trong một hoặc hai ngày đầu tiên, nếu không thể cung cấp đầy đủ dịch và năng lượng cho trẻ qua đường miệng hoặc ống xông dạ dày do tình trạng của trẻ sơ sinh chưa ổn định. Khi đó nuôi dưỡng tĩnh mạch là cần thiết để bổ sung chất đạm, glucose và chất béo, ngăn ngừa mất nước và suy dinh dưỡng. Sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ đẻ non qua đường xông dạ dày có thể đảm bảo cung cấp năng lượng cho trẻ sơ sơ sinh nhẹ cân, mặc bệnh, trẻ đẻ non, đặc biệt là với trẻ có suy hô hấp và cơn ngừng thở tái diễn Việc cho ăn bắt đầu với một lượng nhỏ (ví dụ, từ 1 đến 2 mL mỗi 3 đến 6 giờ) để kích thích đường tiêu hóa. Khi trẻ dung nạp được, lượng và nồng độ thức ăn gia tăng từ trong 7 đến 10 ngày. Ở trẻ sơ sinh rất nhỏ hoặc bệnh nặng, cần nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch để đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ. Khi đó đường truyền trung tâm (catheter trung tâm hay longline) có thể cần thiết để duy trì nuôi dưỡng tĩnh mạch trong một khoảng thời gian kéo dài cho đến khi có thể cho ăn đầy đủ qua đường tiêu hóa

Xuất viện

Trẻ sơ sinh đẻ non thường phải nằm viện cho đên khi các vấn đề sức khỏe của trẻ đã hoàn toàn ổn định.

  • Trẻ có thể ăn đủ lượng sữa cần thiết mà không cần sự hỗ trợ đặc biệt nào

  • Tăng cân một cách đều đặn

  • Có thể duy trì nhiệt độ cơ thể bình thường trong nôi.

Hầu hết các trẻ sơ sinh non tháng có thể về nhà khi chúng ở tuổi thai từ 35 đến 37 tuần và cân nặng từ 2 đến 2,5 kg. Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn. Một số trẻ sơ sinh có thể xuất viện sớm hơn trong khi đó một số trẻ cần ở lại lâu hơn trong bệnh viện. Khoảng thời gian trẻ nằm trong bệnh viện không ảnh hưởng đến tiên lượng lâu dài.

Trẻ non tháng nên được chuyển sang ngủ ở tư thế nằm ngửa trước khi xuất viện. Cha mẹ nên được hướng dẫn để giữ cho nôi của trẻ không có các vật liệu mềm bao gồm chăn, chăn, gối, và đồ chơi nhồi bông, do có liên quan đến tăng nguy cơ Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS).

Khảo sát cho thấy hầu hết các ghế ô tô không được lắp đặt tối ưu, vì vậy nên kiểm tra ghế ô tô có chứng nhận an toàn cho trẻ. Có thể tìm thấy các địa điểm kiểm tra here. Một số bệnh viện cung cấp một dịch vụ kiểm tra, nhưng những lời khuyên thông thường do một nhân viên bệnh viện không được chứng nhận không nên được coi là tương đương với việc kiểm tra bởi một chuyên gia chỗ ngồi ô tô đã được chứng nhận.

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo rằng ghế ô tô chỉ được sử dụng cho phương tiện chuyên chở và không phải là ghế hoặc giường ngủ sơ sinh ở nhà.

Phòng ngừa

Mặc dù chăm sóc trước sinh rất quan trọng, nhưng không có bằng chứng rõ ràng về việc chăm sóc hoặc các can thiệp khác làm giảm tỷ lệ sinh non.

Việc sử dụng các thuốc giảm co để trì hoãn cuộc chuyển dạ đẻ non để tạo thời gian cho việc sử dụng corticosteroid thúc đẩy sự trưởng thành của phổi được thảo luận ở nơi khác (xem Sinh non : Điều trị).

Những điểm chính

  • Có nhiều yếu tố nguy cơ sinh non nhưng không phải mọi trường hợp đẻ non đều tìm được nguyên nhân

  • Các biến chứng bao gồm hạ thân nhiệt, hạ đường huyết, hội chứng suy hô hấp, các cơn ngưng thở, xuất huyết não thất, chậm phát triển, nhiễm khuẩn huyết, bệnh võng mạc do non tháng, tăng bilirubin máu, viêm ruột hoại tử và ăn kém.

  • Tử vong và khả năng xảy ra các biến chứng giảm đáng kể khi tuổi thai và cân nặng khi sinh tăng lên.

  • Điều trị rối loạn, đảm bảo nhiệt độ cơ thể và cho ăn.

  • Mặc dù phụ nữ có chăm sóc trước khi sinh có tỷ lệ sinh non thấp nhưng không có bằng chứng cho thấy chăm sóc trước khi sinh hoặc các can thiệp khác làm giảm tỷ lệ sinh non.

Thêm thông tin

Trẻ sơ sinh non tháng muộn

Trẻ đẻ ra trong khoảng từ 34 đến 36 6/7 tuần tuổi thai được coi là non muộn

Biến chứng

Mặc dù các nhà lâm sàng có xu hướng tập trung vào biểu hiện lâm sàng và các vấn đề của trẻ sinh non <34 tuần tuổi, trẻ đẻ non muộn cũng có các nguy cơ bệnh lý tương tựxem Trẻ Sơ Sinh : Biến chứng). So với trẻ đủ tháng, trẻ đẻ non muộn có nguy cơ nằm viện lâu hơn và tăng nguy cơ tái nhập viện bởi các bệnh lý cần chăm sóc y tế Hầu hết các rối loạn đều liên quan đến sự thiếu hụt chức năng cac cơ quan do sự chưa trưởng thành và cũng tương tự như trẻ non tháng. Tuy nhiên, mức độ nặng có giảm hơn Tuy nhiên, một số biến chứng của non tháng (ví dụ:, viêm ruột hoại tử, bệnh võng mạc do non tháng, , xuất huyết não thất) thường không phổ biến ở trẻ đẻ non muộn. Trong hầu hết các trường hợp, các biến chứng được điều trị khỏi hoàn toàn

Các biến chứng phổ biến hơn ở trẻ non tháng bao gồm:

  • Thần kinh: Triệu chứng ngưng thở (xem Ngưng thở ở trẻ non tháng)

  • Đường tiêu hóa: Ăn kém do chưa trưởng thành phản xạ mút và nuốt (nguyên nhân chính dẫn đến việc ở lại bệnh viện kéo dài và / hoặc tái nhập viện)

  • Tăng bilirubin máu: Nguyên nhân do chưa trưởng thành cơ chế trao đổi chất bilirubin ở gan và / hoặc sự tăng hấp thu bilirubin ở ruột (ví dụ, giảm nhu động ruột gây tăng tái tuần hoàn ruột gan)

  • Hạ đường huyết: Gây ra bởi dự trữ glycogen thấp

  • Nhiệt độ không ổn định: ở một vài mức độ hạ thân nhiệt sơ sinh ở một nửa số trẻ sơ sinh (tỷ lệ diện tích da/trọng lượng cơ thể lớn và khả năng điều hòa thân nhiệt còn kém do lớp mỡ nâu ít)

Đánh giá

  • Sàng lọc thường quy cho các biến chứng

Có sự khác biệt về thực hành trong việc chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng muộn, đặc biệt đối với tuổi thai và / hoặc cân nặng khi sinh ở trẻ mà ở đó trẻ thường được nhận vào đơn vị hồi sức sơ sinh (NICU). Một số bệnh viện thường nhập viện với trẻ sơ sinh <35 tuần tuổi vào NICU, trong khi những nơi khác có thể chọn <34 tuần. Vẫn còn các bệnh viện khác có cách tiếp cận riêng khác. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tất cả trẻ non tháng muộn cần theo dõi chặt chẽ những điều sau đây:

  • Nhiệt độ: Có nguy cơ hạ thân nhiệt cao, và một số trẻ non tháng muộn cần phải nằm trong lồng ấp Nhiệt độ của trẻ nên được đánh giá thường xuyên. Đối với trẻ sơ sinh nằm trong phòng bệnh của mẹ, nên giữ nhiệt độ trong phòng ở nhiệt độ 22 đến 25 ° C (72-77 ° F) tương tự như ở những nơi chăm sóc trẻ sơ sinh.

  • Trọng lượng: Tùy thuộc vào lượng thức ăn của trẻ sơ sinh, có thể sụt cân nhiều gây tình trạng mất nước và tăng natri máu. Trẻ sơ sinh nên được cân nặng hàng ngày và cần phải tính toán và theo dõi sự sụt cân của trẻ Chất điện giải nên được kiểm tra nếu cân nặng giảm vượt quá 10%.

  • Cho ăn và ăn: Trẻ đẻ non muộn có thể bú mẹ hoặc bú bình kém dẫn đến không đủ lượng sữa cần thiết cho trẻ Hỗ trợ cho ăn bằng ống thông dạ dày có thể là rất cần thiết, đặc biệt ở trẻ sinh ở tuần thứ 34. Vì sữa mẹ có thể mất từ 1 đến 4 ngày mới bài tiết được, có thể cần bổ sung sữa của ngân hàng sữa mẹ hoặc sữa công thức. Số lượng sữa trẻ sơ sinh bú cũng như số lượng nước tiểu (tính bằng mL / kg / h) phải được theo dõi.

  • Glucose: Hạ đường máu sớm (trong vòng 12 giờ đầu tiên của cuộc sống) là phổ biến, do đó, sàng lọc theo khuyến cáo của Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (5) trong 24 giờ đầu tiên của cuộc đời nên được thực hiện. Ngoài ra, một số chuyên gia khuyên bạn nên tiếp tục sàng lọc mỗi 12 giờ cho đến khi xuất viện để phát hiện những trẻ sơ sinh bị hạ đường huyết do lượng sữa không đủ.

Tham khảo đánh giá

Tiên lượng

Tiên lượng thay đổi theo biểu hiện lâm sàng và mức độ nghiêm trọng của các biến chứng. Nói chung, tử vong và khả năng biến chứng giảm đáng kể do tuổi thai và cân nặng khi sinh tăng lên.

Các vấn đề hô hấp thường giải quyết mà không có di chứng lâu dài. Triệu chứng cơn ngưng thở thường được giải quyết từ 37 đến 38 tuần thai và gần như hết hoàn toàn ở 43 tuần.

Rối loạn phát triển thần kinh (xem Phát triển trẻ em) là phổ biến hơn ở trẻ non tháng muộn (so với trẻ đủ tháng) được đánh giá ở tuổi 2 và ở tuổi mẫu giáo (6). Xác định sớm bằng cách giám sát các mốc phát triển và các can thiệp hỗ trợ kịp thời với những trẻ có dấu hiệu chậm tăng trưởng

Chẩn đoán tiên lượng

Điều trị

  • Chăm sóc hỗ trợ

  • Điều trị đặc biệt cho các biến chứng

Xác định các rối loạn và điều trị Đối với trẻ sơ sinh không cần can thiệp hỗ trợ đặc biệt, điều trị và chăm sóc cần tập trung vào 2 vẫn đề là đảm bảo thân nhiệt và cho ăn

Trẻ sơ sinh non muộn có thể bị ảnh hưởng do nhu cầu chuyển hóa của cơ thể để đảm bảo duy trì nhiệt độ cơ thể bình thường từ 36,5 đến 37,5 o C, tương ứng với nhiệt độ nách ở 36,5 đến 37,3 o C (97,7 đến 99,1 o F) . Nhiệt độ môi trường mà ở đó nhu cầu trao đổi chất (tiêu hao năng lượng) để duy trì nhiệt độ cơ thể trong phạm vi bình thường là thấp nhất được gọi là nhiệt độ tối ưu Nhiệt độ bình thường có thể được duy trì ở nhiệt độ môi trường thấp hơn với chi phí hoạt động trao đổi chất tăng, do đó nhiệt độ bình thường không đảm bảo rằng nhiệt độ môi trường là tối ưu. Khi nhiệt độ cơ thể dưới mức bình thường và nhiệt độ môi trương thấp thì khi đó được gọi là giới hạn nhiên độ mà ở đó cơ chế điều nhiệt không còn đảm bảm được nhiệt độ bình thường của cơ thể Trong thực hành lâm sàng, nhiệt độ phòng 22.2 đến 25.6 ° C (72 đến 78 ° F) kết hợp với biện pháp tiếp xúc da kề da với chăn phủ ngoài, lại dược phủ bao ngoài thêm 1 cái chăn và đội mũ cho trẻ thì khi đó tạo được môi trường nhiệt tối ưu cho hầu hết trẻ non muộn Trẻ đẻ non hoặc rất non thường cần có lồng ấp để dảm bảo môi trường nhiệt tối ưu

Nuôi con bằng sữa mẹ được khuyến khích mạnh mẽ. Sữa mẹ, cung cấp các yếu tố miễn dịch yêu tố tăng trưởng mà không có được trong sữa bò, đồng thời dung nạp sữa mẹ cũng tốt hơn ở trẻ non tháng Trẻ đẻ non chưa có khả năng phổi hợp giữa mút, nuốt và thở, cần được cho ăn bằng ống thông dạ dày với một lượng nhỏ, tăng dần từ từ

Những điểm chính

  • Mặc dù trẻ sơ sinh non tháng muộn (≥ 34 tuần tuổi và <37 tuần tuổi thai) có thể có cùng kích thước và hình dạng với trẻ sơ sinh đủ tháng nhưng có nguy cơ có biến chứng cao hơn trẻ đủ tháng.

  • Các biến chứng bao gồm hạ thân nhiệt, hạ đường huyết, ăn kém, giảm cân nhiều, suy hô hấp, tăng bilirubin máu và tăng khả năng tái nhập viện sau khi xuất viện.

  • Điều trị bao gồm điều chỉnh các rối loạn, duy trì thân nhiệt và cho ăn

  • Theo dõi tình trạng phát triển thần kinh và kịp thời điều trị hỗ trợ với bất kỳ thiếu hụt nào.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG