MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Chấn thương khi sinh

Theo

Robert L. Stavis

, PhD, MD,

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg10 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2017
Nguồn chủ đề

Sử dụng forcep trong cuộc sinh thường gây chấn thương cho trẻ sơ sinh. Tỷ lệ chấn thương ở trẻ sơ sinh do các ca sinh khó hay chấn thương khi sinh đang giảm do sử dụng ngày càng tăng mổ lấy thai thay cho hỗ trợ khi sinh khác như, Gác hút, hoặc là Forceps.

sang chấn khi sinh thường gặp ở những bà mẹ có khung chậu hẹp, trong khi trẻ sơ sinh lớn so với tuổi thai (thường là trường hợp bà mẹ bị tiểu đường), hoặc ngôi ngược hoặc ngôi thai bất thường khác, đặc biệt là đẻ con so.

Tổn thương ngoài hộp sọ

Chấn thương ở đầu là chấn thương thường gặp nhất của chấn thương khi sinh. Hầu hết các chấn thương này thường là nhẹ, tuy nhiên, một vài trường hợp có thể có chấn thương nghiêm trọng xảy ra.

Đầu bị kéo dài

Khuôn đầu bị kéo dài ra do khi sinh thường, áp lực đẩy mạnh trong tử cung đẩy đầu trẻ sơ sinh làm cho đầu trẻ bị ép vào và kéo dài khi đi qua đường sinh dục của mẹ. Đầu trẻ bị kéo dài như vậy tuy nhiên hầu như không gây ra tổn thương hay phải can thiệp điều trị gì

Trầy xước da đầu

Da trầy xước và vết thương, thường nông và nhẹ, có thể xảy ra trong nếu cuộc chuyển dạ cần can thiệp hỗ trợ dụng cụ (lên đến 10% trẻ sơ sinh có tổn thương da khi can thiệp giác hút).

Bướu huyết thanh

Bướu huyết thanh là khối dịch dưới da đầu do sự thoát mạch của huyết thanh dưới áp lực xảy ra trong cuộc chuyển dạ lên đầu trẻ ở những trẻ đẻ ngôi đầu.

Chảy máu dưới cân galeal ( màng cứng)

Xuất huyết dưới galeal là tình trạng máu chảy vào khoang giữa cân galeal và màng xương Nó là kết quả của chấn thương lớn và được đặc trưng bởi một khối lượng dịch (máu) bao trùm trên toàn bộ vùng đầu, bao gồm khu vực thái dương, khối dịch này xuất hiện trong vài giờ đầu sau sinh. Khoang giữa cân galeal và màng xương rất lớn có thể chứa một lượng máu rất lớn. Chảy máu trong khoang có thể dẫn đến mất máu nặng và shock do mất máu - cần được truyền máu cấp cứu. Chảy máu dưới cân galeal có thể là hậu quả của sử dụng các biện pháp can thiệp như forceps hay giác hút hoặc từ các bệnh lý rối loạn đông máu

Điều trị chủ yếu là hỗ trợ

Tụ máu xương sọ

Là tình trạng chảy máu ở màng xương sọ Tụ máu xương sọ được phân biệt với chảy máu dưới cân Galeal bởi nó được giới hạn ở một xương mà không thể vượt qua đường khớp của xương đó. Tụ máu xương sọ thường gặp ở 1 bên và thường là ở xương đỉnh Một số ít trường hợp có thể có vết rạn xương trên nền xương . Máu tụ thường xuất hiện trong vài ngày đầu sau sinh sau đó tan dần và hết sau vài tuần

Điều trị với khối máu tụ là không cần thiết nhưng có thể dẫn đến thiếu máu hoặc vàng da tăng bilirubin máu Đôi khi, máu tụ canxi hóa thành một khối xương.

Vỡ xương sọ

Vỡ xương sọ rất hiếm gặp Hầu hết là hậu quả của các biện pháp hỗ trợ bằng forceps hoặc từ tổn thương xương đầu đã có trong tử cung Trẻ sơ sinh bị vỡ xương sọ hoặc chấn thương đầu khác cũng có thể bị chảy máu dưới màng cứng chảy máu dưới màng nhện, hoặc đụng dập não (xem Xuât huyêt nội sọ). Tổn thương vỡ xương sọ có thể sờ thấy (đôi khi nhìn thấy) sự biến dạng của hộp sọ. KHi đó cần chẩn đoán phân biệt với tình trạng biến dạng hộp sọ do tăng sinh dầy màng xương trong u máu xương sọ.

Chụp CT sọ để chần đoán xác định vỡ xương sọ và là loại trừ các biến chứng kèm theo khác.

Đánh giá vấn đề can thiệp ngoại khoa nếu cần

Tổn thương thần kinh mặt

Các dây thần kinh mặt bị thương khá phổ biến Tổn thương thường gặp do sử dụng forceps hỗ trợ trong cuộc đẻ. Tuy nhiên, một số trường hợp tổn thương do áp lực lên dây thần kinh xảy ra trong cuộc đẻ do tư thế thai nhi (đầu nằm trên vai, gai đuôi cột sống hay do u xơ tử cung).

Tổn thương dây thần kinh mặt thường xảy ra ở ngoại vi (liệt ngoại biên) do vị trí tổn thương thường ở phía sau chố thoát ra từ trần hòm nhĩ và gây ra triệu chứng: mất cân đối khuôn mặt đặc biệt là khi trẻ khóc. Việc xác định tổn thương thần kinh bên nào đôi khi gây ra nhầm lẫn. Tuy nhiên, có thể phân biệt được bằng cách quan sát cơ mặt bên tổn thương sẽ không vận động được. Tổn thương cũng có thể xảy ra cho nhánh riêng lẻ của dây thần kinh, thường là nhánh hàm dưới.

Một nguyên nhân khác của sự không đối xứng trên mặt là sự không đối xứng hàm dưới do áp lực trong tử cung; trong trường hợp này do sự phân bố thần kinh là hoàn toàn bình thương nên cả 2 bên mặt các cơ đều có thể vận động bình thường Trong sự bất đối xứng dưới hàm dưới, hàm trên và mặt cắn của hàm dưới không song song, nó phân biệt nó với tổn thương dây thần kinh mặt. Bất thường bẩm sinh có thể gây ra bất đối xứng khi cười do thiếu 1 bên cơ hạ mép (cơ tam giác môi). Bất thường này là không đáng kể về mặt lâm sàng nhưng phải được phân biệt với tổn thương dây thần kinh mặt.

Không cần thiết chỉ định xét nghiệm hay điều trị với những trường hợp tổn thương thần kinh mặt ngoại vi hay sự mất cân xứng của xương hàm dưới. Thường tự khỏi sau 2 - 3 tháng tuổi

Liệt đám rối thần kinh cánh tay

Tổn thương đám rối thần kinh cánh tay thường xảy ra so động tác kéo cổ thai nhi khi sinh thường gặp trong trường hợp mắc vai, ngôi ngược, hay do sa vai trong đẻ ngôi đầu Chấn thương có thể đơn giản do kéo hoặc do chảy máu ở dây thần kinh hoặc so xé rách rễ hoặc dây thần kinh hoặc giật mạnh rễ thần kinh với kèm theo tổn thương tủy cổ Có thể có tổn thương kết hợp bao gồm (ví dụ, gãy xương đòn hoặc xương cánh tay hoặc khớp vai hoặc thậm chí tổn thương tủy cổ). Đẩy áp lực mạnh vào tử cung trong cuộc đẻ có thể là nguyên nhân trong một số trường hợp

Các tổn thương bao gồm

  • Tổn thương đám rối cánh tay trên (C5 đến C7): Tác động đến các cơ xung quanh vai và khuỷu tay

  • Đám rối dưới (C8 đến T1): chủ yếu ảnh hưởng đến cơ của cẳng tay và bàn tay

  • Toàn bộ dây thần kinh cánh tay: Tác động lên toàn bộ chi trên và các sợi giao cảm của T1 (ngực 1)

Vị trí và loại tổn thương gốc dây thần kinh xác định tiên lượng.

Liệt Erb là tổn thương thường gặp nhất trong tổn thương đám rối thần kinh cánh tay Đây là tổn thương dây thần kinh cánh trên (C5 đến C7) gây ra vai khép và quay vào trong với cẳng tay sấp. Đôi khi mất phản xạ cơ nhị đầu và Phản xạ Moro không đối xứng. Liệt cơ hoành cùng bên do chấn thương thần kinh hoành cũng rất phổ biến. Điều trị liệt Erb bằng các biện pháp hỗ trợ như vật lý trị liệu, tư thế bao gồm việc bảo vệ vai khỏi chuyển động quá mức bằng cách cố định cánh tay qua bụng trên và ngăn ngừa sự cứng khớp bằng cách nhẹ nhàng thực hiện các bài tập thụ động theo hoạt động của những khớp liên quan hằng ngày bắt đầu từ 1 tuần tuổi.

Liệt Klumpke là hiếm gặp và là tổn thương phần thấp của đám rối thần kinh cánh tay gây liệt bàn tay và cổ tay. Phản xạ cầm nắm thường mất nhưng phản xạ cân cơ nhị đầu thì bình thường. Tổn thương dây giao cảm Ngực 1 thường gây ra Hội chứng Horner1 bên (co đồng tử, sụp mi, giảm tiết mồ hôi mặt). Tập vận động thụ động thường là phường pháp điều trị cần thiết

Liệt Erb hay liệt Klump thường không gây ra mất cảm giác, có thể thử bằng test đau. Các tổn thuơng này có thể tự phục hồi nhanh chóng nhưng cũng có thể còn tồn tại kéo dài Nếu tổn thương kéo dài quá > 3 tháng, MRI được chỉ định để xác định vị trí tổn thương ở dây, rễ thần kinh hay tủy cổ Một số trường hợp cần phậu thuật là vi phẫu nối dây hoặc nhánh thần kinh để điều trị tình trạng liệt.

Sự tổn thương của toàn bộ đám rối thần kinh ít gặp hơn, với biểu hiện chi trên mềm nhẽo, không hoặc rất ít vận động, mất các phản xạ và thường mất cảm giác kèm theo . Hội chứng Horner thường ở 1 bên thường xảy ra trong các trường hợp tổn thương nặng. Tổn thương bó tháp 1 bên (với, giảm vận động, dấu hiệu Babinski) cho thấy chấn thương tủy sống; MRI nên được chỉ định. Sự phát triển của chi bên tổn thương có thể bị ảnh hưởng Tiên lượng phục hồi là rất kém. Điều trị gồm cần có can thiệp thần kinh Các bài tập thụ động có thể ngăn ngừa sự co rút cơ.

Tổn thương thần kinh Hoành

Hầu hết các chấn thương dây thần kinh Hoành (khoảng 75%) có liên quan đến tổn thương đám rối thần kinh cánh tay. Tổn thương thường là một bên và do tình trạng kéo căng phần đầu và cổ trong cuộc đẻ.

Trẻ có thể có triệu chứng suy hô hô hấp với giảm thông khí phổi bên tổn thương

Điều trị tổn thương dây thần kinh hoành chủ yếu là hỗ trợ. Một số trường hợp có thể cần hỗ trợ áp lực dương hoặc thở máy. Khoảng 1/3 số trẻ sẽ tự phục hồi trong tháng đầu tiên. Số trẻ còn lại không hồi phục cần phẫu thuật tạo nếp gấp cơ hoành.

Các tổn thương dây thần kinh ngoại vi khác

Chấn thương dây thần kinh ngoại vi khác (bao gồm, thần kinh quay, thần kinh hông, thần kinh bịt) rất hiếm ở trẻ sơ sinh và thường không liên quan đến chuyển dạ và cuộc sinh Chúng thường là hậu quả thứ phát của các tổn thương khu trú khác (ví dụ, tiêm vào hoặc gần dây thần kinh hông).

Điều trị tổn thương dây thần kinh ngoại biên chủ yếu là điều trị hỗ trợ, đặt tư thế đối kháng với các cơ bị liệt và chờ đợi tự phục hồi. Các chỉ đinh ngoại khoa với tổn thương dây thần kinh thường rất hiếm . Hầu hết các chấn thương dây thần kinh ngoại biên đều tự hồi phục hoàn toàn.

Chấn thương tủy sống

Chấn thương tủy sống (xem thêm Tổn thương tủy sống ở trẻ em) hiếm gặp , mực độ nặng liên quan đến mức độ tổn thương của tủy sống và thường kèm theo xuất huyết. Đứt hoàn toàn tủy sống thường rất hiếm. Chấn thương thường xảy ra ở cuộc đẻ ngôi ngược tác động lực mạch kéo theo chiều dọc cột sống Tổn thương có thể do hậu quả của chảy máu ngoài màng cứng gây chèn ép tủy sống hoặc tư thế trẻ quá ngửa cổ trong tử cung (" tư thê thai bay"). Tổn thương thường ảnh hưởng đến vùng tủy cổ thấp (C5 đến C7). Tổn thương vùng tủy cổ cao nếu xảy ra sẽ nguy cơ gây tử vong do ức chế hô hấp hoàn toàn Đôi khi có thể nghe tiếng clic hay clac trong cuộc sinh

Tổn thương ban đầu có thể gây tình trạng choáng tủy với biểu hiện trẻ hoàn toàn mềm nhũn (nặng hơn mức độ tổn thương thật sự của tủy sống) Tổn thương vận động và cảm giác phía dưới tổn thương có thể duy trì vĩnh viễn Tổn thương có thể phục hồi trong vòng vài ngày hoặc vài tuần. Trẻ thường thở bình thường vì vận động của cơ hoành được chi phổi bởi nhánh thần kinh cao hơn (ở C3 đến C5) so với tổn thương dây điển hình. Nếu tổn thương tủy sống hoàn toàn sẽ gây liêt cơ liên sườn, cơ bụng, trực tràng, bàng quang gây ra tình trạng đái ỉa không tự chủ. Mất cảm giác và giảm tiết mồ hôi phần cơ thể phía dưới tổn thương. Hậu quả có thể dẫn đến sự thay đổi nhiệt độ không ổn định theo sự thay đổi nhiệt độ môi trường.

MRI chỉ định để đánh giá tổn thương, đồng thời loại trừ các căn nguyên khác như u bẩm sinh hay u máu chèn ép tủy Dịch não tủy thường có máu.

Với sự chăm sóc thích hợp, hầu hết trẻ sơ sinh sống sót trong nhiều năm. Nguyên nhân gây tử vong ở bênh nhân thường do tình trạng viêm phổi tái phát và mất chức năng thận Điều trị tổn thương tủy sống bao gồm chăm sóc ngăn ngừa loét da, điều trị kịp thời các nhiễm trùng đường tiểu và đường hô hấp, và đánh giá định kỳ để xác định tắc nghẽn đường tiểu sớm.

Xuât huyêt nội sọ

Xuất huyết trong hoặc xung quanh não có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh, phổ biến hơn ở những trẻ sinh non; khoảng 25% trẻ sơ sinh non tháng < 1500 g có xuất huyết nội sọ.

Nguyên nhân chủ yếu gây xuất huyết trong sọ bao gồm

  • Thiếu oxy-thiếu máu

  • Huyết động không ổn định

  • Tăng tưới máu do tái tưới máu

  • Các áp lực tác động lên đầu trong quá trình chuyển dạ

Xuât huyêt vùng mầm (vùng tổ chức não nằm trên nhân nền, sàn não thất bên chứa rất nhiều các tế bào đang phát triển và rất giàu mạch máu nhỏ, dễ vỡ, nguy cơ cao xuất huyết) gây xuất huyết não phổ biến ở trẻ đẻ non. Nguy cơ cũng tăng lên do rối loạn đông máu (ví dụ:, thiếu vitamin K, bệnh hemophilia, đông máu nội mạch rải rác).

Xuất huyết có thể xảy ra ở nhiều vị trí trong hệ thần kinh trung ương Xuất huyết nhỏ dưới màng nhện, liềm đại não và lều tiểu não thường là những phát hiện ngẫu nhiên trong giải phẫu tử thi ở trẻ sinh non tử vong vì nguyên nhân không phải là hệ thần kinh trung ương. Xuất huyết lớn dưới màng nhện hoặcndưới màng cứng, tổ chức não và não thất ít gặp hơn nhưng nghiêm trọng hơn.

Xuất huyết nội sọ ở trẻ sơ sinh cần được đặt ra trong các trường hợp sau:

  • Ngưng thở

  • Co giật

  • Li bì

  • Khám thần kinh bất thường

Trẻ sơ sinh như vậy cần được chỉ định thăm khám hình ảnh sọ não như một phần của đánh giá ban đầu. Siêu âm qua thóp là biện pháp thăm khám hầu như không có nguy cơ, không cần an thần cho trẻ, và có thể xác định được máu trong não thất hoặc nhu mô não. CT nhạy hơn so với siêu âm trong phát hiện các chảy máu nhỏ dưới nhện, dưới màng cứng hay tổn thương xương MRI nhạy hơn và đặc hiệu hơn so với CT hoặc siêu âm trong phát hiện chảy máu nội sọ và chấn thương não. CT được thực hiện để nhanh chóng xác định xuất huyết nội sọ.

Điều trị xuất huyết trong sọ phụ thuộc vào vị trí và mức độ trầm trọng của xuất huyết nhưng thường chỉ hỗ trợ, bao gồm tiêm vitamin K nếu trước đó chưa được tiêm và điều chỉnh các rối loạn đông máu nếu có Trong trường hợp xuất huyết đáng kể (ví dụ, xuất huyết dưới màng cứng), cần hội chẩn chuyên khoa phẫu thuật thần kinh để xác định nguy cơ can thiệp phẫu thuật

Tụ máu ngoài màng cứng

Tụ máu dưới màng cứng là tình trạng chảy máu vào khoang giữa xương sọ và màng cứng Bệnh hiếm gặp nhưng có thể xảy ra ở những bệnh nhân có vỡ xương sọ chảy máu sọ. Trẻ có thể biểu hiện triệu chứng như ngừng thở, co giật, triệu chứng thần kinh khu trú và các bất thường thần kinh khác kèm theo. Thóp trước phồng và tăng áp lực nội sọ

Hầu hết tụ máu ngoài màng cứng có thể tự giới hạn và tự hết mà không cần can thiệp điều trị. Nếu cần can thiệp có thể là phẫu thuật hoặc can thiệp tối thiểu Can thiệp tối thiếu được thực hiện bằng cách chọc hút kim dưới hướng dẫn siêu âm Can thiệp phẫu thuật thực hiện bằng mở sọ lấy máu tụ. Chỉ định trong trường hợp khối máu tụ lớn, tiến triển nhanh và không đáp ứng các biện pháp điều trị khác

Nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời, kết quả thần kinh là tốt.

Xuất huyết não thất và / hoặc xuất huyết trong não

Xuất huyết não thất và / hoặc xuất huyết trong não thường xảy ra trong 3 ngày đầu đời và là loại chảy máu trong sọ nặng nề nhất Xuất huyết não thất thường xảy ra trẻ sơ sinh non tháng, thường là hai bên và xuất phát từ vùng mầm (geminal matrix) Hiếm gặp ở trẻ đủ tháng Hầu hết các trường hợp là chảy máu dưới màng mềm và trong não thất với lượng máu nhỏ Trong trường hợp xuất huyết nặng, chảy máu có thể xảy ra trong não thất với lượng máu khá lớn, chảy máu trong toàn bộ hệ thống não thất bao gồm cả phần bể lớn và hố sau thậm chí trong cả nhu mô não. Tình trạng thiếu oxy-thiếu máu thường đi kèm với xuất huyết trong não thất và xuất huyết dưới nhện Thiếu oxy-thiếu máu cục bộ làm tổn thương lớp tế bào nội mạch, làm mất khả năng tự điều tiết mạch máu não và làm tăng lưu lượng máu trong não và áp lực tĩnh mạch, tất cả dẫn xuất huyết trầm trọng hơn. Hầu hết xuất huyết não thất không có triệu chứng, nhưng xuất huyết lớn có thể gây ngừng thở, tím tái và suy sụp đột ngột

Tiên lượng với trẻ sơ sinh có xuất huyết trong não thất mực độ ít là tốt. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh có xuất huyết não thất lớn có tiên lượng xấu, đặc biệt nếu đi kèm xuất huyết trong não. Những trẻ sinh sống thường để lại di chứng thần kinh Trẻ non tháng có tiền sử xuất huyết trong não thất nghiêm trọng có nguy cơ tiến triển các di chứng sau xuất huyết Não úng thủy và phải được theo dõi chặt chẽ bằng khám lâm sàng, đo vòng đầu và theo dõi trên siêu âm để có chỉ định can thiệp kịp thời.

Điều trị xuất huyết trong não thất hầu hết là điều trị hỗ trợ. Tuy nhiên, với trẻ có biến chứng não úng thủy sau xuất huyết não có thể cần can thiệp phẫu thuật dẫn lưu não thất bằng tạo đường hầm đặt dẫn lưu trong da Phẫu thuật nội soi não thất cúng là một biện pháp can thiệp được lựa chọn ở một số bệnh nhân Một số trẻ thần kinh có thể tiến triển biến chứng thân kinh nên việc theo dõi cẩn trọng và chỉ định can thiệp kịp thời là vô cùng cần thiết

Bệnh xuất huyết dưới màng nhện

Xuất huyết dưới nhện là tổn thương thường gặp nhất của xuất huyết trong sọ. Là tình trạng chảy máu giữa màng nhện và màng mềm Trẻ sơ sinh thường có biểu hiện triệu chứng trong ngày thứ 2 hoặc thứ 3 sau sinh gồm: ngưng thở, co giật, li bì hoặc các triệu chứng thần kinh bất thường khác.

Tiên lượng cho xuất huyết dưới nhện thường tốt hầu như không có di chứng lâu dài đáng kể. Tuy nhiên, với xuất huyết lớn hoặc có viêm màng não kèm theo, có thể dẫn đến biến chứng não úng thủy sau đó.

Điều trị xuất huyết dưới nhện chủ yếu là hỗ trợ vào theo dõi biến chứng não úng thủy về sau.

Xuất huyết dưới màng cứng

Xuất huyết dưới màng cứng là tình trạng chảy máu giữa dưới màng và màng mềm Nó là hậu quả của tổn thương các mạch máu vùng liềm não, lều tiểu não và tĩnh mạch não Tổn thương thường gặp ở trẻ sơ sinh con so, thai to, hoặc đẻ khó - làm tăng áp lực trong khi sinh lên các mạch máu não gây vỡ mạch. Một số xuất huyết dưới nang không phát triển. Trẻ sơ sinh có thể có triệu chứng: ngưng thở, co giật, đầu to nhanh, khám thần kinh bất thường với giảm trương lực cơ, phản xạ Moro kém hoặc xuất huyết võng mạc rộng.

Dự báo xuất huyết dưới da được bảo vệ, nhưng một số trẻ sơ sinh thì làm tốt.

Điều trị xuất huyết dưới màng cứng hầu hết là điều trị hỗ trợ. Đôi khi cần can thiệp ngoài khoa lấy máu tụ trong trường hợp khối máu tụ tiến triển nhanh gây đè đẩy cấu trúc não và triệu chứng lâm sàng xấu đi.

Gẫy xương

Gãy điểm giữa xương đòn, là tình trạng gãy xương thông thường nhất khi sinh xảy ra với trường hợp mắc vai và thậm chí với cả các trường hợp đẻ thường mà không hề có chấn thương khi sinh nào. Triệu chứng ban đầu trẻ thường hơi kích thích, không vận động tay bên tổn thương bao gồm cả vân động tự động hay khi khám phản xạ moro Hầu hết gẫy xương đòn là "gãy cành tươi" và thường tự phục hồi nhanh chóng và hầu như không có biến chứng gì Gãy xương này thường bị bỏ qua khi khám tại bệnh viện. Thường được chẩn đoán khi đã canxi hóa hình thành tại chỗ gãy xương trong vòng một tuần. Quá trình lành chỗ gãy thường hoàn thành trong vòng một tháng và không có di chứng gì.

Không cần thiết phải điều trị đặc biệt, nhưng một số bác sĩ khuyên nên hạn chế vận động tay trong vòng 1 tuần Thuốc giảm đau là không cần thiết vì trẻ sơ sinh bị gãy xương đòn thường không có dấu hiệu đau.

Các xương hông và xương đùi có thể bị nứt trong những trường hợp đẻ khó Hầu hết chúng là gẫy kiểu cành tươi, và có thể tự phục hồi một cách nhanh chóng, hầu như không có biến chứng thậm chí cả những ca có di lệch mực độ vừa. Một số cương dài có thể gẫy qua phần mấu chuyển nhuwgn hầu như tiên lượng là tốt

Tổn thương mô mềm

Tất cả các mô mềm dễ bị tổn thương khi sinh nếu chúng đã là phần hiện diện hoặc điểm tựa cho các lực co bóp của tử cung. Phù nề, đỏ da thường đi kèm với các tổn thương phần mềm đặc biệt là vùng quanh mắt hoặc vùng mặt ở trẻ đẻ ngôi mặt hay tổn thương bầm tụ vùng dinh dục ở trẻ đẻ ngôi mông Đẻ ngôi ngược. Việc tan khối máu tụ sẽ giải phóng ra nhân Hem rồi thành bilirubin xảy ra trong khối máu tụ Tăng nguy cơ tăng bilirubin máu nặng hơn ở trẻ sơ sinhtăng bilirubin máu sơ sinh cần điều trị chiếu đèn, một số hiếm có thể cần thay máu Các điều trị khác không cần thiết

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG