MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ nhũ nhi

(Bệnh trào ngược dạ dày thực quản [GERD])

Theo

William J. Cochran

, MD, Geisinger Clinic

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg2 2017

Trào ngược dạ dày thực quản (GER) là sự di chuyển các thành phần trong dạ dày vào thực quản. Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là sự trào ngược gây ra các biến chứng như kích thích, các bệnh đường hô hấp và chậm phát triển. GERD thường được chẩn đoán lâm sàng, bao gồm thay đổi chế độ ăn uống, nhưng một số trẻ cần phải chụp hàng loạt phim đường tiêu hoá trên, đo pH thực quản với đầu dò trở kháng, đôi khi cần nội soi. Trào ngược dạ dày thực quản sinh lý chỉ cần giải thích cho bà mẹ hiều và không cần điều trị. Điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản bắt đầu với việc thay chế độ ăn; một số trẻ cần các thuốc kháng acid như ranitidine hoặc lansoprazole. Rất ít khi cần đến phẫu thuật tạo van chống trào ngược

Trào ngược dạ dày thực quản xảy ra ở hầu hết trẻ nhũ nhi, biểu hiện dưới dạng trớ sau khi ăn. Tỷ lệ trào ngược dạ dày thực quản tăng từ 2 - 6 tháng tuổi (có thể là do tăng lượng chất lỏng ở mỗi lần cho ăn) và sau đó bắt đầu giảm sau 7 tháng tuổi. Trào ngược dạ dày thực quản sinh lý thường tự hết khoảng 85% ở trẻ dưới 12 tháng và khoảng 95% ở trẻ dưới 18 tháng. Bệnh trào ngược dạ dày thực quản ít gặp hơn.

Nguyên nhân

Các nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ nhũ nhi tương tự như ở trẻ lớn hơn và người lớn - cơ thắt thực quản dưới (LES) không ngăn được sự trào ngược thức ăn từ dạ dày vào thực quản. Áp lực cơ thắt thực quản dưới có thể giảm thoáng qua một cách tự phát (sự giãn cơ bất thường), đó là nguyên nhân gây trào ngược phổ biến nhất, hoặc sau khi tiếp xúc với khói thuốc lá và caffein (trong đồ uống hoặc sữa mẹ). Thực quản thường có áp lực âm tính, trong khi dạ dày có áp lực dương. Áp lực trong cơ vòng thực quản dưới phải vượt quá áp lực đó để chống trào ngược. Các yếu tố làm tăng sự chêng lệch áp lực giữa dạ dày và thực quản hoặc làm giảm áp lực cơ thắt thực quản dưới có xu hướng gây trào ngược. Sự chêng lệch áp lực giữa dạ dày và thực quản có thể tăng lên ở những trẻ nhũ nhi ăn quá nhiều (thức ăn thừa làm áp lực dạ dày cao hơn) và ở những trẻ bị bệnh phổi mãn tính (áp lực trong lồng ngực thấp hơn làm tăng sự chênh áp qua cơ thắt thực quản dưới) và thay đổi tư thế (ví dụ ngồi làm tăng áp lực dạ dày).

Những nguyên nhân khác bao gồm dị ứng thức ăn, thường bị dị ứng sữa. Nguyên nhân không phổ biến là liệt dạ dày (chậm rỗng dạ dày), trong đó thức ăn vẫn còn trong dạ dày một khoảng thời gian dài, duy trì áp lực dạ dày cao dẫn đến trào ngược. Một số trường hợp không điển hình, trẻ nhũ nhi có thể bị nôn giuống biểu hiện của bệnh trào ngược dạ dày thực quản do bệnh chuyển hóa (ví dụ:khiếm khuyết trong chu trình ure, bệnh galactosemia, không dung nạp fructose di truyền) hoặc bất thường về giải phẫu (như hẹp tá tràng hoặc là ruột quay dở dang).

Biến chứng

Các biến chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản chủ yếu là kích ứng do acid dạ dày và do sự thiếu hụt calo vì thường xuyên bị trào ngược.

Acid dạ dày có thể gây kích ứng thực quản, thanh quản và đường thở nếu hít phải. Sự kích thích thực quản có thể làm giảm lượng thức ăn ăn vào vì trẻ sẽ ăn ít đi để tránh trào ngược. Tổn thương thực quản nhiều (viêm thực quản) có thể gây ra thiếu máu nhẹ, mãn tính và hẹp thực quản. Kích thích thanh quản và đường thở có thể gây ra các triệu chứng hô hấp. Hít phải dịch dạ dày có thể gây viêm phổi tái diễn.

Triệu chứng và dấu hiệu

Thường xuyên trớ là triệu chứng chính của trào ngược dạ dày thực quản. Những người chăm sóc trẻ thường nhắc đến triệu chứng này như nôn, nhưng nó không phải vì sự co thắt của ruột . Trớ xảy ra dễ dàng và không có sự gắng sức

Trẻ nhũ nhi bị bệnh trào ngược dạ dày thực quản có thể bị kích thích và / hoặc có các triệu chứng về hô hấp mãn tính tái phát như ho hoặc thở khò khè và đôi khi thở rít. Rất ít khi trẻ bị ngưng thở ngắt quãng/ có các cơn uốn cong lưngvà quay đầu sang một bên (hội chứng Sandifer). Trẻ nhũ nhi có thể chậm tăng cân hoặc có khi, giảm cân.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

  • Thông thường là chụp phim dạ dày - ruột hàng loạt

  • Đôi khi đo pH thực quản hoặc nội soi

Trẻ nhũ nhi phải gắng sức để trớ, trẻ phát triển bình thường, và trẻ không có các triệu chứng khác (đôi khi được gọi là trớ sinh lý) có trào ngược dạ dày thực quản và không cần phải đánh giá thêm.

Bởi vì trớ rất phổ biến, nhiều trẻ nhũ nhi bị rối loạn nghiêm trọng cũng có tiền sử trớ. Dấu hiệu "cờ đỏ" gợi ý các bệnh lý khác nghiêm trọng hơn bệnh trào ngược dạ dày thực quản bao gồm nôn nhiều, nôn máu hoặc mật, sốt, chậm tăng cân, máu trong phân, tiêu chảy và phát triển bất thường hoặc có các triệu chứng thần kinh. Trẻ nhũ nhi nếu có các triệu chứng trên cần phải được đánh giá nhanh như mô tả ở khác trong cuốn sách này. Nôn dịch mật ở trẻ nhũ nhi là một cấp cứu ngoại khoa vì nó có thể là triệu chứng của hội chứng ruột quay dở dangxoắn trung tràng.

Có nhiều nguyên nhân có thể gây ra triệu chứng kích thích, bao gồm các bệnh nhiễm trùng và các rối loạn thần kinh, cần được loại trừ trước khi kết luận rằng các biểu hiện kích thích là do bệnh trào ngược dạ dày thực quản.

Trẻ nhũ nhi có các triệu chứng phù hợp với bệnh trào ngược dạ dày thực quản và không có biến chứng nặng có thể được điều trị nội khoa cho bệnh trào ngược dạ dày thực quản; nếu các triệu chứng cải thiện hoặc mất đi sẽ gợi ý gợi ý bệnh trào ngược dạ dày thực quản và khi đó các xét nghiệm khác là không cần thiết. Có thể cho trẻ nhũ nhi cho ăn sữa thuỷ phân hoàn toàn (giảm chất gây dị ứng) trong 7 - 10 ngày để xem các triệu chứng có phải là do dị ứng thức ăn hay không.

Trẻ nhũ nhi không đáp ứng với điều trị thử, hoặc xuất hiện các dấu hiệu là biến chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản có thể cần được đánh giá thêm. Thông thường, chụp hàng loạt phim dạ dày - ruột là bước kiểm tra đầu tiên; nó có thể giúp chẩn đoán trào ngược và cũng có thể xác định bất kỳ bất thường giải phẫu là nguyên phát gây ra chứng trớ. Phát hiện có luồng trào ngược barit vào thực quản đoạn trên hoặc đoạn giữa thì rõ ràng hơn so với thực quản đoạn dưới. Đối với trẻ nhũ nhi bị trớ sau khi ăn nhiều giờ, có thể có liệt dạ dày, để kiểm tra thời gian làm trống dạ dày, người ta sử dụng một chất phóng xạ dạng lỏng có đánh dấu. Phương pháp này có thể thay thế cho phương pháp chụp hàng loạt phim dạ dày - ruột

Nếu chẩn đoán vẫn chưa rõ ràng, liệu trào ngược có thực sự là nguyên nhân của các triệu chứng như ho hay thở khò khè, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa trẻ em có thể đánh giá sự trào ngược bằng đo pH thực quản hoặc ghi điện trở kháng trong lòng thực quản (xem Máy theo dõi pH di động). Người chăm sóc trẻ ghi lại sự xuất hiện của các triệu chứng (bằng tay hoặc bằng cách sử dụng đầu dò); sau đó tìm hiểu mỗi liên quan giữa các đợt trào ngược với thời điểm trào ngược được phát hiện bởi đầu dò. Đầu dò pH cũng có thể đánh giá hiệu quả của liệu pháp ức chế acid. Ghi điện trở kháng có khả năng phát hiện cả trào ngược không axit và trào ngược acid.

Nội soi dạ dày - ruột và sinh thiết đôi khi được thực hiện để giúp chẩn đoán nhiễm trùng hoặc dị ứng thức ăn, phát hiện, và đánh giá mức độ viêm thực quản. Có thể thực hiện việc soi thanh khí phế quản để phát hiện viêm thanh quản, các hạt ở dây thanh quản và tìm bằng chứng có mặt các đại thực bào lipid - laden ở phế quản trên bệnh nhân có các triệu chứng hô hấp.

Điều trị

  • Thay đổi chế độ ăn

  • Thay đổi tư thế

  • Có thể dùng liệu pháp ức chế acid

  • Hiếm khi phẫu thuật

Đối với trẻ nhũ nhi có trào ngược dạ dày thực quản, điều trị cần thiết duy nhất là giải thích với người chăm sóc trẻ hiểu và yên tâm là các triệu chứng bình thường và sẽ không tiến triển. Trẻ nhũ nhi bị bệnh trào ngược dạ dày thực quản cần được điều trị, bắt đầu với các phương pháp nội khoa.

Thay đổi chế độ ăn

  • Cho trẻ ăn thức ăn đặc

  • Chia thành các bữa nhỏ, tăng số bữa

  • Đôi khi sử dụng sữa công thức giảm chất dị ứng

Bước đầu tiên, hầu hết các bác sĩ lâm sàng khuyên mẹ nên cho trẻ ăn dặm, có thể thực hiện bằng cách cho 1/2 - 1 thìa ngũ cốc gạo / 30 mL nước. Ăn thức ăn đặc dường như ít trào ngược hơn, đặc biệt khi trẻ nhũ nhi được giữ trong tư thế thẳng đứng từ 20 -30 phút sau khi cho ăn. Sữa công thức bổ sung thức ăn đặc có thể không chảy qua đầu bình sữa , do đó có thể cắt chéo núm vú của bình sữa cho phép sữa làm đặc có thể đi qua.

Chia thành các bữa nhỏ và cho ăn nhiều bữa hơn sẽ giúp giảm áp lực trong dạ dày và giảm thiểu số thức ăn trào ngược. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải duy trì đủ lượng sữa trong 24 giờ để đảm bảo sự tăng trưởng đầy đủ cho trẻ. Ngoài ra, vỗ lưng cho trẻ sau mỗi 1 - 2 oz trẻ ăn vào có thể giúp giảm áp lực dạ dày bằng cách loại bỏ không khí trẻ nuốt vào.

Sử dụng sữa giảm dị ứng cho trẻ bị dị ứng thức ăn. Sữa giảm dị ứng thậm chí vẫn hữu ích cho trẻ không bị dị ứng thức ăn vì có thể tăng thời gian àm trống dạ dày. Tất cả trẻ em nên tránh xa các chất cafêin và khói thuốc lá.

Tư thế

Sau khi cho ăn, trẻ nhũ nhi được giữ ở vị trí thẳng đứng, không ngồi trong khoảng 20 -30 phút (ngồi, như ở ghế dành cho trẻ nhũ nhi làm tăng áp lực dạ dày và không tốt cho trẻ). Khi ngủ, phần đầu của cũi dành cho trẻ có thể được nâng lên khoảng 15 cm (6 inch); nếu phần đầu cũi của trẻ được nâng lên, trẻ phải được giữ bằng một dụng cụ nâng đỡ thích hợp để giữ cho trẻ khỏi lăn hoặc trượt xuống dưới của cũi

Điều trị bằng thuốc

Ba loại thuốc có thể được sử dụng ở trẻ nhũ nhi không đáp ứng với việc thay đổi chế độ ăn và tư thế khi ăn:

  • Thuốc kháng histamine-2 (H2)

  • Thuốc ức chế bơm proton (PPI)

  • Thuốc làm tăng sự rỗng dạ dày

Thông thường, điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản bắt đầu với một thuốc ức chế H2 như ranitidine 2 mg/kg 2-3 lần/ngày. Nếu trẻ đáp ứng, tiếp tục điều trị trong vài tháng và sau đó giảm dần liều rồi dừng lại (nếu có thể). Nếu trẻ không đáp ứng với thuốc ức chế H2, có thể xem xét sử dụng PPI như lansoprazole , mặc dù có rất ít dữ liệu về sử dụng PPI ở trẻ nhũ nhi. PPIs có hiệu quả hơn trong việc ngăn chặn axit dạ dày so với ức chế H2 và chỉ dùng một lần/ngày. Đối với trẻ nhũ nhi bị bệnh trào ngược dạ dày thực quản và có một triệu chứng cấp tính như kích thích, có thể sử dụng một thuốc kháng acid.

Trẻ nhũ nhi có giảm nhu động dạ dày có thể có lợi khi điều trị thuốc làm tăng rỗng dạ dày và liệu pháp làm giảm acid dịch vị. Erythromycin là một trong những loại thuốc làm tăng rỗng dạ dày phổ biến nhất cho tình trạng này. Metoclopramide đã được sử dụng trước đây nhưng dường như không có hiệu quả và có tác dụng phụ đáng kể. Gần đây, amoxicillin/clavulanic cũng đã được sử dụng.

Phẫu thuật

Trẻ nhũ nhi bị biến chứng nặng hoặc đe dọa đến tính mạng do trào ngược không đáp ứng với điều trị thuốc có thể được xem xét để điều trị phẫu thuật. Phẫu thuật chủ yếu là phẫu thuật bao đáy vị. Trong phẫu thuật này, phần trên của dạ dày bọc quanh thực quản đoạn xa để giúp thắt chặt cơ thắt thực quản dưới. Phẫu thuật này rất hiệu quả tuy nhiên có một số biến chứng. Nó có thể gây đau khi trẻ nôn (ví dụ như trong viêm dạ dày ruột cấp) và nếu bọc quá chặt, trẻ có thể bị chứng khó nuốt. Nếu xuất hiện khó nuốt, có thể nội soi để mở rộng bọc. Một số nguyên nhân về mặt giải phẫu cũng có thể phải được phẫu thuật.

Những điểm chính

  • Hầu hết trào ngược ở trẻ nhũ nhi không gây ra các triệu chứng hoặc biến chứng khác và tự khỏi khi trẻ 12 - 18 tháng tuổi.

  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản được chẩn đoán khi trào ngược gây ra các biến chứng như viêm thực quản, các triệu chứng về hô hấp (ví dụ ho, thở rít, thở khò khè, ngưng thở) hoặc chậm lớn.

  • Nếu các triệu chứng bệnh trào ngược dạ dày thực quản nhẹ có thể điều trị thử bằng việc thay đổi chế độ ăn cũng như tư thế khi cho trẻ ăn.

  • Cân nhắc chụp hàng loạt phim dày dày - ruột , đo thời gian tống thức ăn khỏi dạ dày, đo pH thực quản, hoặc nội soi cho trẻ nhũ nhi có triệu chứng bệnh trào ngược dạ dày thực quảnnghiêm trọng hoặc cho trẻ điều trị thử không hiệu quả.

  • Ức chế axit với thuốc ức chế H2 hoặc PPI có thể hiệu quả ở trẻ có bệnh trào ngược dạ dày thực quản rõ rệt.

  • Hầu hết trẻ nhũ nhi có bệnh trào ngược dạ dày thực quản đều đáp ứng với điều trị thuốc, nhưng một số ít phải điều trị phẫu thuật.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG