honeypot link

MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Luận đàm: Cập nhật về các loại vắc-xin COVID-19

Bình luận
11/01/2021 Matthew E Levison, MD, Adjunct Professor of Medicine, Drexel University College of Medicine

Tính đến giữa tháng Mười hai năm 2020, Công cụ theo dõi vắc-xin Coronavirus của báo The New York Times đã liệt kê 59 loại vắc-xin trong các thử nghiệm lâm sàng trên người, 16 loại trong số đó đã đạt đến giai đoạn cuối (giai đoạn 3) của thử nghiệm và ít nhất 86 loại vắc-xin tiền lâm sàng đang được nghiên cứu tích cực trên động vật (1). Các loại vắc-xin SARS-CoV-2 dựa trên một số nền tảng công nghệ khác nhau, xác định các thuộc tính của vắc-xin, chẳng hạn như số liều, độ ổn định ở nhiệt độ phòng, tốc độ phát triển, khả năng mở rộng, nhu cầu về các chất bổ trợ và giá thành (2).

 

Có các loại vắc-xin COVID-19 nào?

Các loại vắc-xin SARS-CoV-2 có thể được phân thành hai loại lớn:

  • Dựa trên gen
  • Dựa trên protein

 

Các loại vắc-xin dựa trên gen bao gồm RNA, DNA, vật chủ trung gian của vi-rút và các loại vắc-xin vi-rút SARS-CoV-2 sống, giảm độc lực.

Các loại vắc-xin dựa trên protein bao gồm các loại vắc-xin vi-rút SARS-CoV-2 bất hoạt và các loại vắc-xin protein của vi-rút hoặc mảnh protein (tiểu đơn vị) của vi-rút.

Protein gai, bám trên bề mặt của vi-rút SARS-CoV-2, chứa các tiểu đơn vị S1 và S2. Vùng gắn kết thụ thể (receptor-binding domain, RBD) của tiểu đơn vị S1 gắn kết với thụ thể bề mặt tế bào chủ, acetylcholine esterase 2 (ACE2). Các phần tử của tiểu đơn vị S2 chịu trách nhiệm về việc hợp nhất của vi-rút và màng tế bào vật chủ. Cả S1 và S2 đều cần phải cho vi-rút xâm nhập và giải phóng bộ gen của nó vào tế bào vật chủ. Các kháng thể gắn kết với protein gai và ngăn chặn sự xâm nhập của vi-rút vào tế bào vật chủ được cho là có vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ khỏi bệnh tật. Do các chức năng không thể thiếu của nó, protein S ở dạng cấu hình ba chiều là mục tiêu chính cho tất cả các loại vắc-xin COVID-19 trong quá trình phát triển lâm sàng.

Các loại vắc-xin mRNA: SARS-CoV-2 là một vi-rút RNA, có RNA (axit ribonucleic) làm vật liệu di truyền của vi-rút này. Một số loại vắc-xin COVID-19 sử dụng gen (ở dạng RNA thông tin hoặc mRNA) mã hóa protein gai và được bao bọc trong một hạt nano lipid để đưa gen của vi-rút vào tế bào của người được tiêm vắc-xin. Sau đó, tế bào của người được tiêm vắc-xin sử dụng gen này tổng hợp protein gai để kích thích đáp ứng miễn dịch bảo vệ. Cần phải tiêm hai liều cách nhau 3 hoặc 4 tuần. Hai loại vắc-xin mRNA, hiện được các cơ quan quản lý có thẩm quyền ở Hoa Kỳ cho phép sử dụng khẩn cấp, hiện đang được sử dụng để tiêm chủng cho người dân ở nhiều quốc gia.

Các loại vắc-xin DNA: Một loại vắc-xin SARS-CoV-2 sử dụng các plasmid DNA (các vòng tròn nhỏ DNA sợi đôi) mã hóa protein gai, được đưa trực tiếp vào tế bào của người được tiêm vắc-xin bằng cách sử dụng thiết bị tiêm trong da. Sau đó, các tế bào của người được tiêm vắc-xin tạo ra protein gai.

Các loại vắc-xin có vật chủ trung gian của vi-rút: Trong các loại vắc-xin có vật chủ trung gian của vi-rút, gen protein gai SARS-CoV-2 được đưa vào một vi-rút mang mầm bệnh vô hại chuyển gen này đến các tế bào của người được tiêm vắc-xin, các tế bào sẽ đọc gen này và lắp ráp protein gai theo cấu hình ba chiều của nó như thể đó là một trong những protein của chính các tế bào này. Protein gai được trình diện trên bề mặt tế bào của người được tiêm vắc-xin, sẽ kích thích đáp ứng miễn dịch. Các vật chủ trung gian phổ biến nhất của vi-rút là các adenovirus không sao chép ở người, các vi-rút này bị làm cho suy yếu thêm nên không thể gây ra bất cứ bệnh nào. Các vật chủ trung gian khác của vi-rút được sử dụng trong các loại vắc-xin SARS-CoV-2 bao gồm vi-rút adenovirus tinh tinh và vi-rút cúm giảm độc lực, sởi, bệnh đậu mùa và các vi-rút gây viêm miệng mụn nước.

Một số loại vắc-xin có vật chủ trung gian của vi-rút dạng hai liều đã sử dụng một típ huyết thanh của adenovirus khác ở người hoặc một loại vi-rút khác hoàn toàn cho liều đầu tiên và liều thứ hai, với hy vọng tránh được hiện tượng nhạy cảm đặc hiệu với vật chủ trung gian sau khi phơi nhiễm với liều đầu tiên (tức là đáp ứng miễn dịch tấn công vật chủ trung gian của vi-rút, do đó cản trở khả năng nhiễm vào tế bào của người nhận). Ngoài ra, một số người có thể đã có sẵn khả năng miễn dịch từ trước đối với típ huyết thanh adenovirus ở người được sử dụng làm vật chủ trung gian, điều này có thể làm giảm hiệu quả của vắc-xin (3).

Các loại vắc-xin SARS-CoV-2 sống, giảm độc lực: Một loại vắc-xin khác bao gồm SARS-CoV-2 sống, giảm độc lực; vi-rút vẫn có thể lây nhiễm và có thể gây ra đáp ứng miễn dịch. Với một số loại vắc-xin sống, giảm độc lực, chẳng hạn như vắc-xin phòng bệnh bại liệt dạng uống, Sabin, có ít khả năng là vi-rút đã bị làm cho suy yếu có thể trở lại nguyên thể toàn bộ độc lực và gây bệnh. Người ta không biết liệu việc trở lại nguyên thể này có xảy ra với vắc-xin SARS-CoV-2 sống, giảm độc lực hay không. Lý tưởng nhất là vi-rút sống, giảm độc lực cần phải không có khả năng trở lại nguyên thể về độc lực, vì đã được thực hiện với vắc-xin bại liệt típ 2 đường uống mới (nOPV) bằng cách sử dụng một quá trình gọi là khử tối ưu hóa đơn vị mã (4).

Các loại vắc-xin SARS-CoV-2 bất hoạt: Các loại vắc-xin này sử dụng vi-rút SARS-CoV-2 đã bị bất hoạt bằng nhiệt, bức xạ hoặc hóa chất, những vi-rút này sẽ chấm dứt khả năng sao chép của mầm bệnh.

Các loại vắc-xin dựa trên protein: Những loại vắc-xin này chứa các protein SARS-CoV-2 hoặc các đoạn protein (các tiểu đơn vị) kích thích đáp ứng miễn dịch bảo vệ. Protein của vi-rút có thể được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp, trong đó các gen mã hóa protein của vi-rút. Trong trường hợp SARS-CoV-2, protein gai hoặc các phần của nó (ví dụ, vùng gắn kết thụ thể) được đưa vào nấm men, vi khuẩn hoặc các loại tế bào khác, sau đó tạo ra protein gai trong phòng thí nghiệm, thường là với số lượng lớn; protein gai được thu thập và protein tinh chế được đưa vào vắc-xin. Cần phải có chất bổ trợ, là phụ gia vắc-xin, để tăng cường cường độ và độ bền của đáp ứng kháng thể.

Các loại vắc-xin nghiên cứu không thể tiêm được: Tất cả các loại vắc-xin đã được thảo luận trước đây đều được cho dùng bằng cách tiêm (ngoài đường tiêu hóa). Các đường dùng vắc-xin khác ngoài đường tiêm cũng đang được đánh giá trên các mô hình động vật và các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn đầu. Ví dụ, đường mũi và các giọt bắn trong không khí hít vào – tương tự như cách bào chế thuốc hen suyễn dạng hít – có thể kích thích khả năng miễn dịch trên niêm mạc tại chỗ ở đường hô hấp, điều này rất quan trọng để ngăn chặn cả nhiễm bệnh và lây truyền.

 

Một liều vắc-xin COVID-19 có đủ không?

Nhiều loại vắc-xin truyền thống cho thời thơ ấu cần phải có một liều mồi sau đó là liều thứ hai, gọi là liều tăng cường, sau đó vài tuần hoặc cùng với một số loại vắc-xin, thậm chí sau đó nhiều năm. Liều tăng cường củng cố trí nhớ miễn dịch.

Hai loại vắc-xin hiện tại do FDA phê chuẩn được cho dùng theo dạng hai liều cách nhau 3 hoặc 4 tuần. Một mũi tiêm duy nhất của một trong hai loại vắc-xin này có thể cho khả năng bảo vệ mạnh mẽ chống lại COVID-19. Lưu ý rằng một số loại vắc-xin khác vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm được thiết kế để cho dùng dưới dạng một liều duy nhất, nhưng dữ liệu về hiệu quả đang chờ xử lý.

Một trong những loại vắc-xin hiện tại (Pfizer) cho khả năng miễn dịch cho khoảng một nửa số người trong khoảng thời gian 3 tuần giữa liều thứ nhất và liều thứ hai (39 trường hợp xảy ra ở nhóm vắc-xin và 82 trường hợp ở nhóm giả dược – 5). Nhưng khi xem xét dữ liệu trong khoảng thời gian giữa thời điểm sau khi tiêm lần đầu tiên 12 ngày (khi bắt đầu có tác dụng miễn dịch bảo vệ) và trước khi tiêm liều thứ hai, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Boston đã đưa ra giả thuyết rằng hiệu quả của đơn liều có thể cao tới 80 hoặc 90% (6). Phân tích này tương thích với các kết quả thử nghiệm của loại vắc-xin khác được FDA phê chuẩn (Moderna), xem xét hiệu quả của vắc-xin ở một nhóm đã được tiêm 1 liều vắc-xin hoặc giả dược tại thời điểm phân tích tạm thời, với thời gian theo dõi trung bình là 28 ngày. Đường cong tỷ lệ mắc tích lũy của các trường hợp đã phân kỳ sau khi dùng liều đầu tiên 14 ngày, khi tác dụng gây miễn dịch của vắc-xin bắt đầu, với nhiều trường hợp tích lũy ở nhóm giả dược hơn so với nhóm vắc-xin. Hiệu quả từ 14 đến 28 ngày sau khi dùng đơn liều cũng là khoảng 90% (2 trường hợp trong số 983 người được tiêm vắc-xin và 28 trường hợp trong số 1059 người dùng giả dược – 7).

Bởi vì hầu hết bệnh nhân trong các thử nghiệm về hai loại vắc-xin này sau đó được tiêm mũi thứ hai và vì thời gian theo dõi những người chỉ được tiêm 1 mũi là ngắn, nên không rõ tác dụng bảo vệ kéo dài bao lâu sau khi tiêm một liều duy nhất.

Nếu, vì nguồn cung thiếu hụt, chỉ có một liều được tiêm, thì không biết khi nào sẽ là tốt nhất để tiêm liều thứ hai khi nguồn cung cấp vắc-xin đã đủ. Ngoài ra, hậu cần của việc lên lịch cho hàng triệu người đến để tiêm liều thứ hai tại một thời điểm không xác định trong tương lai là một vấn đề. Một ẩn số khác là đáp ứng miễn dịch và độ an toàn sẽ như thế nào nếu hai loại vắc-xin COVID-19 khác nhau được sử dụng cho liều đầu tiên và liều thứ hai, một khái niệm được gọi là “liều đầu tiên-liều tăng cường dị chủng” (8).

 

Đột biến protein gai có làm suy yếu hiệu quả của vắc-xin không?

Các đột biến liên tục xuất hiện mỗi khi vi-rút thích nghi với vật chủ mới, bất chấp sự hiện diện của hoạt động đọc rà soát mã RNA coronavirus mang lại độ chính xác sao chép cao (9). Trung bình, một bộ gen của vi-rút SARS-CoV-2 được thu thập vào tháng Mười năm 2020 có khoảng 20 đột biến tích lũy so với chủng đầu tiên được giải trình tự vào tháng Một năm 2020 (Wuhan-Hu-1 – tài liệu tham khảo 10). Các đột biến được dự kiến và thường xuyên nhất chỉ là các dấu hiệu trung tính, hữu ích cho việc truy vết người tiếp xúc.

Tuy nhiên, các đột biến trong gen mã hóa các vị trí quan trọng chi phối sự tương tác của protein gai và ACE2 có thể làm thay đổi hiệu quả của vắc-xin. Một loại đột biến protein gai, được gọi là D614G, hoặc G614, đã xuất hiện ở châu Âu và sau đó nhanh chóng lan ra khắp thế giới. May mắn thay, biến thể D614G, được phát hiện là dễ bị trung hòa hơn bởi các kháng thể do các chủng vi-rút trước đó tạo ra, sẽ không làm thay đổi hiệu quả của vắc-xin (11). Một biến thể SARS-CoV-2 với bốn thay đổi di truyền trong protein gai được tìm thấy ở chồn nuôi Đan Mạch bị nhiễm bệnh và công nhân trang trại chồn ít nhạy cảm hơn với các kháng thể trung hòa từ những bệnh nhân bị nhiễm COVID-19 trước đó trong đại dịch, điều đó cho thấy rằng các kháng thể được sinh ra bởi các loại vắc-xin được tạo trên protein gai Vũ Hán đầu tiên có thể kém hiệu quả hơn ở những người bị nhiễm biến thể này.

Một biến thể mới khác với nhiều đột biến protein gai (tên là VUI 202012/01 và dòng B.1.1.7) được cho là dễ lây hơn 70% và hiện chiếm hơn 60% số ca nhiễm mới được báo cáo ở London (12 và 13) . Theo quan điểm về thể đột biến mới nhất tại Vương quốc Anh này, CDC Châu Âu đã khuyến nghị rằng việc giải trình tự gen được thực hiện trên các chủng vi-rút phân lập từ các trường hợp nghi ngờ tái nhiễm COVID-19 và từ những bệnh nhân đã thất bại với điều trị bằng huyết tương ở giai đoạn dưỡng bệnh hoặc bằng các kháng thể đơn dòng. Với việc triển khai tiêm chủng, những người được chích ngừa COVID-19 sẽ cần được theo dõi để xác định các trường hợp thất bại trong tiêm chủng và các trường hợp nhiễm bệnh đột phát. Các chủng vi-rút phân lập từ những bệnh nhân này cần phải được xác định trình tự và đặc điểm về mặt di truyền và kháng nguyên để xác định các ảnh hưởng đến hiệu quả của vắc-xin (14).

Gần đây, một biến thể protein gai mới khác, có tên là B1.351 và 501Y.V2, đã xuất hiện ở Anh; sự lây lan nhanh chóng của nó, được phát hiện lần đầu tiên ở Nam Phi vào đầu tháng Mười, có thể là một dấu hiệu cho thấy khả năng lây truyền gia tăng.

 

Vắc-xin có ngăn chặn sự lây truyền của SARS-CoV-2 không?

Các thử nghiệm giai đoạn 3 đối với các loại vắc-xin COVID-19 hiện do FDA phê chuẩn được thiết kế chủ yếu để xác định khả năng ngăn ngừa nhiễm bệnh có triệu chứng và giảm thiểu mức độ nặng của nhiễm bệnh. Chúng tôi biết rằng có tới 40% số trường hợp nhiễm COVID-19 không có triệu chứng, nhưng tuy nhiên, có thể lây lan. Tuy nhiên, các thử nghiệm không xác định được liệu các loại vắc-xin có ngăn chặn được lây nhiễm không có triệu chứng, vốn nổi tiếng là có thể lây truyền, hay không. Để kiểm tra khả năng ngăn chặn sự lây truyền của từng loại vắc-xin, những người tham gia tiêm vắc-xin và giả dược không chỉ cần được theo dõi về phát triển bệnh có triệu chứng mà còn cần phải được kiểm tra số lượng vi-rút SARS-CoV-2 đều đặn và thường xuyên trên các mẫu bệnh phẩm hô hấp. Một người có số lượng vi-rút trong các chất bài tiết qua đường hô hấp càng cao, thì họ càng có nhiều khả năng truyền vi-rút cho người khác. Nếu nhóm được tiêm chủng cho ra rất ít hoặc không có vi-rút so với nhóm dùng giả dược, thì đó sẽ là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy vắc-xin làm giảm nguy cơ người được tiêm vắc-xin lây nhiễm. Tại thời điểm này, vẫn chưa hoàn toàn rõ rằng về việc vắc-xin COVID-19 do FDA phê chuẩn có làm giảm lây truyền hay không.

Loại thứ hai trong số hai loại vắc-xin mRNA do FDA phê chuẩn đã xem xét hiệu quả của vắc-xin chống nhiễm bệnh không có triệu chứng, mặc dù không có sẵn dữ liệu tại thời điểm đệ trình EUA. Để kiểm tra khả năng ngăn ngừa nhiễm bệnh không có triệu chứng, số lượng que tăm bông lấy bệnh phẩm mũi họng có PCR dương tính được thu thập ngay trước khi dùng liều thứ hai ở những người được tiêm vắc-xin được so với số lượng que tăm bông lấy bệnh phẩm từ những người dùng giả dược; 14 mẫu que tăm bông lấy bệnh phẩm có PCR dương tính ở nhóm vắc-xin và 38 mẫu ở nhóm giả dược, giảm 63% số mẫu que tăm bông lấy bệnh phẩm có PCR dương tính, điều đó cho thấy rằng một số trường hợp nhiễm bệnh không có triệu chứng được phòng ngừa sau khi tiêm liều đầu tiên (Bảng 1, tài liệu tham khảo 15). Do đó, hai loại vắc-xin mRNA này có hiệu quả rất cao trong việc chống lại nhiễm bệnh có triệu chứng rất có thể làm giảm sự lây truyền ở một mức độ nào đó. Hiện tại, chúng tôi phải chờ thêm dữ liệu.

Tuy nhiên, dữ liệu có sẵn từ thử nghiệm về một loại vắc-xin hiện chưa được phê chuẩn (AstraZeneca và Đại học Oxford), trong đó xét nghiệm vi-rút hàng loạt được thực hiện trên những người được tiêm vắc-xin. Thử nghiệm này đã cho biết rằng đã phát hiện ra ít trường hợp nhiễm bệnh không có triệu chứng hơn ở những người được tiêm chủng so với nhóm dùng giả dược; trong thử nghiệm liều đầu tiên thấp cộng liều tăng cường tiêu chuẩn, 7 trường hợp không có triệu chứng xảy ra ở nhóm được tiêm chủng so với 17 trường hợp ở nhóm dùng giả dược cho hiệu quả vắc-xin gần 60% trong việc ngăn ngừa nhiễm bệnh không có triệu chứng (16). Để kiểm tra các trường hợp nhiễm bệnh không có triệu chứng, những người tham gia thử nghiệm vắc-xin này cần phải cung cấp các que tăm bông lấy bệnh phẩm mũi và họng tự quản hàng tuần để làm xét nghiệm PCR từ sau khi tiêm vắc-xin đầu tiên 1 tuần bằng bộ dụng cụ do nghiên cứu cung cấp. Vì khả năng lây truyền của COVID-19 không chỉ phụ thuộc vào sự hiện diện của vi-rút trong chất bài tiết đường hô hấp mà còn phụ thuộc vào số lượng vi-rút, nên số lượng vi-rút tối ưu cũng cần phải được theo dõi. Số lượng vi-rút có thể được ước tính bằng cách xác định chu kỳ ngưỡng (Ct), là thước đo nồng độ của gen đích hiện diện trong phản ứng PCR; Ct càng cao thì nồng độ càng thấp. Tuy nhiên, dữ liệu Ct không được cung cấp trong dữ liệu thử nghiệm được công bố (17).

Sử dụng dữ liệu mở rộng do Quận King ở Bang Washington cung cấp, các mô phỏng trên máy tính dự đoán ước tính giảm 60% số ca mắc và tử vong nếu hai loại vắc-xin mRNA do FDA phê chuẩn cho khả năng bảo vệ hoàn toàn chống lại nhiễm bệnh, cả có triệu chứng và không có triệu chứng. Nếu những loại vắc-xin này chủ yếu làm giảm tần suất bị bệnh có triệu chứng và ngăn ngừa nhiễm bệnh nặng, nhưng không hạn chế sự hiện diện của SARS-CoV-2 trong chất bài tiết đường hô hấp và do đó lây truyền vi-rút – mô hình máy tính dự đoán khu vực Quận King sẽ có khoảng 200.000 ca nhiễm bệnh mới và trên 500 trường hợp tử vong vào năm 2021 (18 và 19). Các loại vắc-xin phòng ngừa chủ yếu là nhiễm bệnh có triệu chứng ít có khả năng đóng góp vào khả năng miễn dịch cộng đồng vì các loại vắc-xin đó có thể không ngăn chặn được các chuỗi lây truyền đang diễn ra (xem bên dưới). Tuy nhiên, ngay cả khi các loại vắc-xin SARS-CoV-2 không ngăn chặn hoàn toàn sự lây truyền, thì các vắc-xin đó cũng làm cho bệnh nhẹ hơn và ít gây chết người hơn.

 

Làm thế nào để các loại vắc-xin có tác động đến khả năng miễn dịch cộng đồng?

Không phải ai cũng cần tăng cường miễn dịch do nhiễm bệnh tự nhiên hoặc do tiêm chủng để chấm dứt dịch bệnh. Khi một phần đủ lớn cộng đồng tăng cường miễn dịch với một căn bệnh, sự lây lan bệnh từ người này sang người khác được giới hạn đủ để ngăn chặn dịch bệnh (được gọi là miễn dịch cộng đồng). Cần phải có bao nhiêu người miễn dịch trong quần thể để đạt được miễn dịch cộng đồng? Điều đó phụ thuộc vào một số yếu tố. Có thể tìm thấy một bài đánh giá xuất sắc về chủ đề này của Marc Lipsitch (20) tại https://ccdd.hsph.harvard.edu/2020/12/17/covid-19-vaccines-and-herd-immunity/.

Khi bắt đầu đợt bùng phát, R0, được gọi là hệ số lây truyền, là số người dễ mắc trung bình mà mỗi người dễ lây lây nhiễm trong một quần thể hoàn toàn dễ mắc. Vì vậy, R0 là thước đo mức độ lây nhiễm của một bệnh truyền nhiễm. Đối với bệnh sởi, R0 là từ 12 đến 18, nghĩa là trung bình mỗi người mắc bệnh sởi sẽ lây nhiễm cho 12 đến 18 người. Ước tính R0 từ Vũ Hán, Trung Quốc trong giai đoạn đầu của vụ dịch là từ 2 đến 3. Sau một thời gian, sự lây truyền giảm dần với việc tổ chức các biện pháp kiểm soát (khẩu trang, giãn cách, ở nhà, v.v.) và với nhiều cá nhân được tăng cường miễn dịch do nhiễm bệnh tự nhiên. Hệ số lây truyền hiện tại (Rt) sau đó nhỏ hơn R0. Khi Rt giảm xuống dưới 1 ở Vũ Hán, đợt bùng phát đã kết thúc. Vắc-xin làm giảm lây truyền, cùng với các biện pháp kiểm soát khác, có thể góp phần làm giảm lây truyền.

Tỷ lệ (f) quần thể phải được tiêm chủng để kết thúc đợt bùng phát bằng (1-[1/R0])/E, trong đó E là hiệu quả ngăn ngừa lây truyền của vắc-xin. Nếu E = 95% (0,95) và R0 = 3, thì (1-1/3)/E = 70% số quần thể sẽ cần được tiêm chủng. Nếu vắc-xin thực sự ngăn ngừa một tỷ lệ nhỏ hơn các ca nhiễm bệnh có thể lây truyền hoặc nếu vi-rút trở nên dễ lây truyền hơn, như là biến thể London được cho là dễ lây truyền, thì tỷ lệ quần thể cần được chủng ngừa sẽ lớn hơn. Nếu hiệu quả ngăn ngừa lây truyền của vắc-xin thấp hơn (1− 1/R0), thì không thể loại bỏ nhiễm bệnh chỉ bằng cách tiêm chủng thậm chí cho toàn bộ quần thể (21).

Những trường hợp như vậy cần phải sử dụng các phương pháp khác để làm giảm sự lây truyền của SARS-CoV-2. Các phương pháp này bao gồm giãn cách, đeo khẩu trang nơi công cộng, ở nhà đối với những người lao động không thiết yếu. Nếu vắc-xin không phải là tối ưu, có khả năng những hạn chế này sẽ cần tiếp tục trong nhiều tháng để kiểm soát sự lây truyền và làm giảm bớt gánh nặng cho các hệ thống chăm sóc sức khỏe. Những hạn chế này phải được áp dụng cho quần thể nói chung, không chỉ các nhóm có nguy cơ cao (ví dụ: người rất già), bởi vì mặc dù những người không thuộc nhóm nguy cơ cao ít có khả năng mắc bệnh nặng, nhưng họ cũng có nhiều nguy cơ nhiễm bệnh và do đó có thể lây nhiễm cho những người có nguy cơ cao. Ngoài ra, nguy cơ thấp không phải là không có nguy cơ – một vài người như vậy bị bệnh nặng và/hoặc tàn tật lâu dài.

 

Tài liệu tham khảo

1. Zimmer C, Corum J, Wee SL: coronavirus vaccine tracker. New Your Times. Cập nhật ngày 7 tháng Một năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.nytimes.com/interactive/2020/science/coronavirus-vaccine-tracker.html

2. Ng WH, Liu X, Mahalingam S. Development of vaccines for SARS-CoV-2. F1000Res. 9:F1000 Faculty Rev-991, 2020. Công bố ngày 17 tháng Tám năm 2020. doi:10.12688/f1000research.25998.1

3. King A: Vector-based vaccines come to the fore in the COVID-19 pandemic. The Scientist ngày 8 tháng Chín năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.the-scientist.com/news-opinion/vector-based-vaccines-come-to-the-fore-in-the-covid-19-pandemic-67915

4. Konopka-Anstadt JL, Campagnoli R, Vincent A, et al: Development of a new oral polio vaccine for the eradication end game using codon deoptimization. npj Vaccines 526 (2020). https://doi.org/10.1038/s41541-020-0176-7 

5. Polack FP, Thomas SJ, Kitchin N, et al: Safety and efficacy of the BNT162b2 mRNA covid-19 vaccine. N Engl J Med 383(27):2603-2615, 2020. doi: 10.1056/NEJMoa2034577 

6. Chen A: A single-dose vaccine appears to protect against COVID-19. So why are we giving two? Common Health ngày 20 tháng Mười hai năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.wbur.org/commonhealth/2020/12/18/coronavirus-vaccine-single-dose-debate

7. Vaccines and Related Biological Products Advisory Committee: FDA Briefing Document: Moderna COVID-19 Vaccine. Vaccines and Related Biological Products Advisory Committee Meeting, ngày 17 tháng Mười hai năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.fda.gov/media/144434/download

8. Lu S: Heterologous prime-boost vaccination. Curr Opin Immunol. 21(3):346–351, 2009. doi:10.1016/j.coi.2009.05.016 

9. Dearlove B, Lewitus E, Bai H, et al: A SARS-CoV-2 vaccine candidate would likely match all currently circulating variants. :

10. European Centre for Disease Prevention and Control: Detection of new SARS-CoV-2 variants related to mink – Ngày 12 tháng Mười một năm 2020. ECDC: Stockholm; 2020. https://www.ecdc.europa.eu/sites/default/files/documents/RRA-SARS-CoV-2-in-mink-12-nov-2020.pdf

11. Plante JA, Liu Y, Liu J, et al: Spike mutation D614G alters SARS-CoV-2 fitness. Nature (2020). https://doi.org/10.1038/s41586-020-2895-3  

12. GISAID: UK reports new variant termed VUI 202012/01. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.gisaid.org/references/gisaid-in-the-news/uk-reports-new-variant-termed-vui-20201201/

13. Landler M, Castle S: Boris Johnson tightens UK lockdown citing fast-spreading version of the virus. New York Times ngày 19 tháng Mười hai năm 2020; cập nhật ngày 4 tháng Một năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.nytimes.com/2020/12/19/world/europe/coronavirus-uk-new-variant.html#click=https://t.co/kOLMhkBZfx

14. European Centre for Disease Prevention and Control: Threat assessment brief: Rapid increase of a SARS-CoV-2 variant with multiple spike protein mutations observed in the United Kingdom. Ngày 20 tháng Mười hai năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.ecdc.europa.eu/en/publications-data/threat-assessment-brief-rapid-increase-sars-cov-2-variant-united-kingdom

15. Vaccines and Related Biological Products Advisory Committee: Vaccines and Related Biological Products Advisory Committee Presentation: Moderna COVID-19 Vaccine. Sponsor briefing document addendum. Vaccines and Related Biological Products Advisory Committee Meeting, ngày 17 tháng Mười hai năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021 https://www.fda.gov/media/144453/download

16. Voysey M, Costa Clemens SA, Madhi SA, et al: Safety and efficacy of the ChAdOx1 nCoV-19 vaccine (AZD1222) against SARS-CoV-2: an interim analysis of four randomized controlled trials in Brazil, South Africa, and the UK. Lancet 397:99-111, ngày 9 tháng Một năm 2021. 

17. ThermoFisher Scientific: Real-time PCR: understanding Ct. ThermoFisher Scientific 2016. Truy cập ngày 8 tháng Một năm 2021. https://www.thermofisher.com/us/en/home/life-science/pcr/real-time-pcr/real-time-pcr-learning-center/real-time-pcr-basics/real-time-pcr-understanding-ct.html

18. Swan DA, Goyal A, Bracis C, et al: Vaccines that prevent SARS-CoV-2 transmission may prevent or dampen a spring wave of COVID-19 cases and deaths in 2021.

Clinical Infectious Diseases 52 (7), 911–916, 2011. https://doi.org/10.1093/cid/cir007