honeypot link

MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Tổng quan về trật khớp

Theo

Danielle Campagne

, MD, University of San Francisco - Fresno

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg8 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg8 2017
Nguồn chủ đề

Trật khớp là sự di lệch hoàn toàn của 2 đầu xương của khớp. Bán trật khớp là di lệch một phần. Thông thường, nhân viên y tế sẽ nắn khớp, nhưng đôi khi khớp tự nắn trật (tụ về vị trí ban đầu)

Ngoài trật khớp, các tổn thương hệ vận động khác bao gồm:

tổn thương hệ vận động rất phổ biến và rất khác nhau về cơ chế, mức độ và điều trị. Các chi, cột sống và xương chậu có thể bị ảnh hưởng.

tổn thương hệ vận động có thể xảy đơn lẻ hoặc là một phần của đa chấn thương (xem Tiếp cận bệnh nhân chấn thương). Hầu hết các tổn thương hệ vận dộng là chấn thương kín, nhưng vết thương xuyên thấu cũng có thể làm tổn thương cấu trúc hệ vận động.

Chấn thương cột sống có thể là nguyên nhân gây trật hoặc bán trật khớp; bán trật cột sống không do chấn thương cũng có thể xảy ra. Trật khớp hàm dưới có thể xuất hiện tự nhiên

Trật khớp hở (thông thương ổ khớp với môi trường bên ngoài qua vết thương phần mềm) hoặc kín.

Tiên lượng và điều trị rất khác nhau tùy thuộc vào vị trí và mức độ nghiêm trọng của trật khớp.

Biến chứng

Những biến chứng nghiêm trọng của trật khớp ít gặp nhưng có thể đe doạ tính mạng hoặc tàn phế hoặc là nguyên nhân gây mất chức năng chi vĩnh viễn. Nguy cơ biến chứng cao với trật hở (có thể dẫn đến nhiễm trùng) và với trật khớp gây tổn thương mạch máu làm giảm tưới máu mô và tổn thương thần kinh. Trật khớp, đặc biệt nếu không nắn chỉnh, có nguy cơ cao về tổn thương mạch máu và thần kinh hơn là gãy xương. Trật khớp kín không kèm theo tổn thương mạch máu hoặc thần kinh, đặc biệt là những khớp được nắn chỉnh sớm, ít có khả năng dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng.

Các biến chứng cấp tính (tổn thương phối hợp) bao gồm:

  • Gãy xương: Gãy xương có thể đi kèm trật khớp (ví dụ, trật khớp vai và gãy mấu chuyển lớn).

  • chảy máu: Chảy máu đi kèm với cả các tổn thương mô mềm nghiêm trọng

  • Tổn thương mạch máu: Một số trật khớp kín, đặc biệt là trật khớp gối hoặc khớp háng, làm thiếu máu gây thiếu máu cục bộ ở ngoại vi; tổn thương mạch máu có thể được thể hiện trên lâm sàng vài giờ sau khi bị thương.

  • Tổn thương thần kinh: Thần kinh có thể bị tổn thương do căng giãn khi trật khớp. Tùy thuộc vào nguyên nhân trật khớp, thần kinh có thể bị đụng dập, dập nát, hoặc đứt. Khi các dây thần kinh bị đụng dập (gọi là neurapraxia), làm giảm dẫn truyền thần kinh, nhưng dây thần kinh không bị đứt. Căng giãn thần kinh gây liệt tạm thời về vận động và/hoặc cảm giác; chức năng thần kinh trở lại hoàn toàn trong khoảng 6-8 tuần. Khi dây thần kinh bị dập nát (gọi là sợi dây thần kinh), sợi trục bị tổn thương, nhưng lớp vỏ myelin còn nguyên. Tổn thương này nghiêm trọng hơn so với đụng dập thần kinh. Tùy thuộc vào mức độ tổn thương, dây thần kinh có thể tái tạo trong vài tuần tới nhiều năm. Thông thường, các dây thần kinh bị đứt (gọi là thần kinh gián đoạn) chỉ khi trật khớp hở. Các dây thần kinh bị đứt không tự lành và cần phải được phẫu thuật.

  • Nhiễm trùng: Bất kỳ tổn thương nào cũng có thể bị nhiễm trùng, nhưng nguy cơ cao nhất với những bệnh nhân trật hở hoặc phẫu thuật. Nhiễm trùng cấp tính có thể dẫn đến viêm xương, khó chữa khỏi.

Các biến chứng xa bao gồm:

  • Mất vững: Những trật khớp khác nhau có thể dẫn đến sự mất vững khớp. Sự mất vững có thể làm mất chức năng và làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp

  • Cứng khớp và hạn chế vận động:Cứng khớp xảy ra sớm hơn nếu khớp bị bất động quá lâu. Khớp gối, khuỷu tay, và khớp vai dễ bị cứng khớp sau chấn thương, đặc biệt ở người cao tuổi.

  • Thoái hóa khớp: Thoái hóa khớp xuất hiện chủ yếu khi mạch máu nuôi bị tổn thương. Trật khớp háng bẩm sinh (không phải là trật khớp nhân tạo) có thể dẫn đến hoại tử xương chỏm xương đùi. Tỷ lệ hoại tử chỏm xương đùi sau khi trật khớp háng có liên quan đến mức độ nghiêm trọng của thương tích ban đầu và còn cao hơn nếu khớp không được nắn chỉnh sớm.

  • Thoái hóa khớp: Trật khớp làm phá vỡ bề mặt chịu lực của khớp hoặc dẫn đến lệch trục và mất vững khớp dẫn đến thoái hóa sụn khớp và thoái hóa khớp.

Đánh giá

  • Đánh giá các tổn thương nặng trước (ảnh hưởng đến tính mạng)

  • Bệnh sử và khám bệnh

  • Chụp x-quang

  • Đôi khi cần chụp MRI hoặc CT

Một số trật khớp lâm sàng rõ ràng, nhưng trong một số trường hợp khác (ví dụ, biến dạng khớp vai ở tuổi thiếu niên), trật khớp cần được phân biệt với gãy xương và các thương tích khác.

Tại phòng cấp cứu, nếu cơ chế chấn thương cho thấy thương tích nghiêm trọng hoặc đa chấn thương (như trong trường hợp tai nạn xe máy tốc độ cao hoặc ngã từ trên cao xuống), bệnh nhân được đánh giá từ đầu đến chân cho các thương tích nghiêm trọng cho tất cả các hệ thống cơ quan và, nếu cần thiết, được hồi sức (xem Tiếp cận bệnh nhân chấn thương). Bệnh nhân, đặc biệt nếu nghi ngờ trật khớp háng, cần được đánh giá về sốc do mất máu Nếu chi bị tổn thương, cần đánh giá ngay lập tức đối với các vết thương hở và dấu hiệu tổn thương mạch máu, thần kinh (tê, mất cảm giác, thiếu máu) và hội chứng khoang (ví dụ, đau không tương xứng với tổn thương, nhợt nhạt, mất cảm giác, chi lạnh, mất mạch ngoại vi).

Bệnh nhân cần khám gãy xương, những tổn thương hệ vận động cùng với trật khớp; đôi khi đánh giá này bi chậm lại cho đến khi loại trừ gãy xương.

Khớp trên và dưới của khớp trật cũng nên được kiểm tra.

Một số trật khớp có thể được chẩn đoán trên lâm sàng, nhưng vẫn cần chụp X-quang

Bệnh sử

Cơ chế (ví dụ, hướng và cường độ của tác động) có thể gợi ý các loại tổn thương. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không nhớ hoặc không thể mô tả chính xác cơ chế chấn thương.

Nếu bệnh nhân nói trật khớp xuất hiện trước khi nhập viện, thì trật khớp này nên được giả định là tổn thương tự nắn trật

Khám thực thể

Khám thực thể bao gồm

  • Đánh giá mạch và thần kinh

  • Kiểm tra vết thương hở, biến dạng, sưng , tụ máu, giảm vận động chi hoặc cử động bất thường

  • Sờ kiểm tra co cứng, lạo xạo, và các tổn thương của xương và gân.

  • Kiểm tra các khớp ở trên và dưới vùng bị thương

  • Đôi khi trong bán trật khớp, kiểm tra mất vững khớp bằng các test.

Nếu co cơ và đau làm hạn chế khám thực thể (đặc biệt đối với test đánh giá mất vững), đánh giá sẽ dễ dàng hơn sau khi bệnh nhân được dùng thuốc giảm đau toàn thân hoặc gây tê tại chỗ. Hoặc tổn thương có thể được bất động cho đến khi cơ giảm co, thường là trong vài ngày, và sau đó bệnh nhân có thể được khám xét lại.

Một số phát hiện nhất định có thể là dấu hiệu cho thấy trật khớp hoặc một chấn thương xương khớp khác.

Nếu một vết thương gần khớp trật, trật khớp được coi như trật hở.

Biến dạng có thể là dấu hiệu trật khớp hoặc bán trật khớp (di lệch của các đầu xương trong khớp), nhưng cũng có thể là dấu hiệu gãy xương.

Sưng thường là dấu hiệu tổn thương hệ vận động nhưng có thể cần vài giờ để tiến triển.

Đau chói đi kèm với gần như tất cả các tổn thương hệ vận động, đối với một số bệnh nhân, sờ nắn xung quanh khu vực bị thương đều gây khó chịu cho bệnh nhân.

Mất vững khớp nhiều cho thấy trật khớp hoặc đứt dây chằng một cách nghiêm trọng.

Nghiệm pháp đánh giá mất vững khớp có thể được thực hiện để đánh giá sự ổn định của khớp bị tổn thương; tuy nhiên, nếu nghi ngờ gãy xương thì nghiệm pháp này nên được trì hoãn lại cho đến khi chụp Xquang loại trừ gãy xương. Nghiệm pháp đánh giá mất vững khớp gồm ấn thụ động khớp theo hướng thường vuông góc với chuyển động bình thường. Bởi vì co cơ trong những chấn thương đau cấp tính có thể lu mờ sự mất vững khớp, các cơ xung quanh khớp được giãn càng nhiều càng tốt, và mỗi lần khám phải bắt đầu một cách nhẹ nhàng, lặp đi lặp lại, mỗi lần gia tăng thêm một ít lực. Những phát hiện được so sánh với bên đối diện, là bên bình thường nhưng cũng có thể bị hạn chế bởi bản chất chủ quan của chi. Đối với tất cả các trật khớp liên đốt gần ngón tay (PIP), nghiêm pháp đánh giá mất vững được thực hiện sau khi nắn chỉnh.

Nếu co cơ trầm trọng mặc dù đã sử dụng thuốc giảm đau hoặc thuốc mê, nên khám lại vài ngày sau đó, khi co cơ đã giảm xuống.

Sự chú ý đến các khu vực nhất định trong quá trình khám có thể giúp phát hiện các thương tích dễ bị bỏ sótxem Bảng: Khám một số trật khớp dễ bị bỏ sót và chấn thương chi trên).

Bảng
icon

Khám một số trật khớp dễ bị bỏ sót và chấn thương chi trên

Triệu chứng

Bệnh sử đặc trưng

Khám thực thể

Tổn thương

Đau vai

Kẹt khớp

Điện giật

Hạn chế xoay ngoài thụ động của khớp khuỷu ở tư thế gấp

trật khớp vai ra sau (glenohumeral), có thể gặp cả hai bên

Bệnh sử trật khớp vai ở bệnh nhân trên 40

Không thể giữ được vai dạng 90° khi ấn nhẹ vào cánh tay (nghiệm pháp cánh tay rơi)

Rách cấp tính hoàn toàn chóp xoay

Các cơ chế khác nhau (ví dụ, ngáng chân trong bóng đá, trực tiếp đánh vào khớp)

Đau quanh khớp ức đòn

Thương tổn khớp ức đòn

Thường xuyên nhất, ngã tỳ vai

Đau quanh vùng mỏm cùng vai

Trật hoặc bán trật khớp cùng đòn (vai rời)

Đau cổ tay hoặc sưng nề

Ngã khi đang duỗi cổ tay

Đau vùng khối tụ cốt (nằm phía đầu xa xương quay, giữa gân duỗi dài ngón cái, duỗi ngắn ngón cái và dạng dài ngón cái)

Gãy xương thuyền

Các cơ chế

Đau quanh hố nguyệt (ở nền đốt bàn 3) và đau khi nén dọc theo trục của xương đốt bàn 3

Gãy xương nguyệt

Trật xương nguyệt hoặc xung quanh xương nguyệt

Đối với các tổn thương thường bị bỏ sót, xem Bảng: Thăm khám một số loại gãy xương hay bị bỏ sót và {blank} Thăm khám các tổn thương phần mềm thường bị bỏ sót.

Nếu khám thực thể thấy bình thường ở một khớp mà bệnh nhân có xác định là đau, nguyên nhân có thể biểu hiện là đau. Chẳng hạn, bệnh nhân gãy trượt sụn chỏm xương đùi (hoặc ít hơn là gãy cổ xương đùi) có thể cảm thấy đau ở đầu gối.

Chẩn đoán hình ảnh

Không phải tất cả các chấn thương chi đều cần chẩn đoán hình ảnh. Nếu chẩn đoán hình ảnh là cần thiết, chụp Xquang thường được làm đầu tiên.

X-quang thường qui cho thấy phần xương là chủ yếu và do đó rất hữu ích để chẩn đoán trật khớp. Bao gồm ít nhất 2 tư thế khác nhau (thường là thẳng và nghiêng).

Các tư thế chụp bổ sung (ví dụ, chếch) có thể được thực hiện khi

  • Khám thấy gãy xương và 2 kết quả chụp xquang không thấy gãy xương.

  • Đây là qui tắc thường qui cho một số khớp (ví dụ khớp cổ chân, chụp chếch để đánh giá bàn chân).

  • một số biến dạng bất thường cần nghi ngờ (ví dụ, chụp Y của khớp vai khi nghi ngờ trật khớp vai ra sau).

Đối chụp nghiêng các ngón tay, ngón cần chụp nên được chụp tách ra khỏi các ngón khác.

MRI hoặc là CT có thể giúp chẩn đoán các gãy xương kín đáo và trật khớp kèm theo

một số cách kiểm tra khác được làm để kiểm tra tổn thương liên quan

  • Chụp mạch hoặc là CLVT mạch máu cho các trường hợp nghi ngờ tổn thương động mạch

  • Đo điện cơ và/hoặc ghi tốc độ dẫn truyền thần kinh khi nghi ngờ tổn thương

Điều trị

  • Điều trị các thương tích liên quan

  • Đòi hỏi nắn chỉnh, nẹp, và giảm đau

  • Nguyên tắc RICE ( rest - nghỉ ngơi, ice - chườm lạnh, compression - băng chun, elevation - nâng cao chi tổn thương) hoặc nguyên tắc PRICE (thêm protection - bảo vệ tổn thương bằng việc bất động)

  • Thường là bất động

  • Đôi khi phẫu thuật

Đa phần trật khớp có thể nắn trật về vị trí giải phẫu ban đầu mà không cần phẫu thuật. Thỉnh thoảng, nắn kín có thể thất bại do đó cần phẫu thuật mổ mở để đặt lại khớp. Khi khớp đã nắn lại giải phẫu thì phẫu thuật kèm theo thường không cần thiết, tuy nhiên đôi khi phẫu thuật vẫn được thực hiện để kết hợp xương gãy, lấy mảnh rời kẹt khớp hoặc mất vững khớp sau nắn trật.

Điều trị ban đầu

Trước tiên xử lý các tổn thương nặng (ảnh hưởng tính mạng)

Các tổn thương mạch máu cần được phẫu thuật sửa chữa trừ khi tổn thương mạch máu nhỏ mà tuần hoàn bên tốt. Điều trị hội chứng khoang

Các dây thần kinh bị đứt cần được phẫu thuật sửa chữa; đối với chứng đau thần kinh và bệnh lý sợi trục, điều trị ban đầu thường là theo dõi, và điều trị hỗ trợ và đôi khi vật lý trị liệu

Nếu nghi ngờ trật khớp hở cần phải băng kín lại bằng gạc vô trùng, tiêm uốn ván và dùng kháng sinh phổ rộng (ví dụ cepholosporin thế hệ 2 phối hợp aminoglycoside) và sau đó là phẫu thuật để cắt lọc và làm sạch (mục đích tránh nhiễm trùng)

hầu hết các trật khớp mức độ vừa và nặng (đặc biệt khớp mất vững) cần bất động khớp bằng nẹp (nẹp bất động mềm - không làm cứng khớp, hoặc không gây chèn ép mạch) để giảm đau và tránh các tổn thương thứ phát như tổn thương mô mềm xung quanh do khớp mất vững

Thuốc giảm đau dùng càng sớm càng tốt, thông thường nhóm opioid.

Sau khi điều trị ban đầu, nắn trật khớp, bất động khớp, và điều trị triệu chứng

Trật khớp cần phẫu thuật nếu

  • Các cấu trúc hỗ (dây chằng) trợ khớp bị tổn thương

  • Khớp còn mất vững sau khi nắn trật

Nắn chỉnh

Cần phải nắn trật

Nắn kín (bằng cách kéo nắn, thay đổi tư thế mà không cần rạch da bộc lộ khớp) luôn được tiến hành nếu có thể, trong khi nắn có thể cho thuốc giảm đau/an thần Nếu nắn kín thất bại thì cần phẫu thuật đặt lại khớp (rạch da để bộc lộ), cần được vô cảm (gây tê/mê)

Trật khớp thường yêu cầu bột, nẹp, băng chun hoặc các thiết bị khác (như khung cố định ngoại vi dung cho khớp gối) để duy trì vị trí giải phẫu của khớp

PRICE

Nuyên tắc PRICE (bất động, nghỉ ngơi, chườm lạnh, băng chun, nâng cao chi tổn thương) thường có lợi cho bệnh nhân mặc dù không có bằng chứng khuyến cáo đủ mạnh

Bất động khớp giúp ngăn ngừa tổn thương thứ phát. Nó có thể liên quan đến hạn chế hoạt động cơ quan tổn thương bằng việc bột bất động, nẹp bất động hoặc dùng nạng

Nghỉ ngơi có thể ngăn ngừa tổn thương thứ phát và giúp phục hồi nhanh

Chườm đá băng ép giúp giảm phù nề và đau. Đá chườm cần được bọc bằng khăn hoặc túi nhựa chườm liên tục từ 24-48h sau chấn thương (trong vòng 15-20 phút đầu, càng sớm càng tốt). Vị trí chấn thương có thể băng ép, nẹp cố định, với các chấn thương gây ra phù nề nhiều thì dùng băng ép Jones (là kĩ thuật băng chấn thương gối bằng bông và băng chun mềm từ bàn chân lên trên gối) Băng ép jones gồm 4 lớp trong đó lớp 1, 3 là cotton; lớp 2, 4 dung băng chun.

Kê cao chi bị chấn thương trên mức tim trong vòng 2 ngày đầu để máu về tim không gián đoạn; vị trí đó giúp dẫn lưu máu tĩnh mạch tốt theo chiều trọng lực để hạn chế phù nề.

Sau 48 giờ, đùng biện pháp chườm ấm (ví dụ, một tấm đệm sưởi ấm) trong 15 đến 20 phút có thể làm giảm đau và hồi phục tổn thương nhanh hơn.

Cố định

Cố định khớp để giảm đau và kích thích phục hồi nhanh và ngăn ngừa tổn thương thứ phát Nên bất động trên và dưới tổn thương một khớp

Bột thường được sử dụng cho gãy xương hoặc các thương tích khác cần cố định trên một tuần. Hiếm khi, phần mềm sưng nề quá nhiều sau bột dẫn tới hội chứng khoang. Nếu bác sĩ nghi ngờ bị phù nề nhiều chi sau khi bột thì cần rạch dọc bột và lớp đệm toàn bộ chiều dài phía trong và phía ngoài (2 phía)

Bệnh nhân được bất động bằng bột cần được đưa tờ hướng dẫn bao gồm:

  • Giữ bột khô.

  • Không được đặt một dị vật bên trong bột.

  • Kiểm tra các mép của bột và da xung quanh hàng ngày và phản hồi lại bác sĩ nếu da nề đỏ hơn

  • Cần phủ bằng gạc, bông mềm hoặc các vật liệu mềm khác (giấy mềm) vào vị trí tì đè, góc cạnh của bột để tránh tổn thương da.

  • Khi nghỉ ngơi, hãy đặt chi bó bột cẩn thận, có thể kê một chiếc gối nhỏ hoặc miếng đệm, để tránh cạnh bột kẹp vào da.

  • Nâng cao chi thể bó bột bất cứ khi nào có thể để giảm phù nề

  • Khám lại ngay nếu đau nhiều và cảm thấy bột quá chặt

  • Khám lại ngay nếu có mùi từ bột hoặc sốt vì có thể bị nhiễm trùng

  • Khám lại ngay nếu đau không giảm mà tăng hoặc tê bì hoặc yếu ngọn chi (vì đó là triệu chứng hội chứng khoang).

Vệ sinh tốt là rất quan trọng.

Cố định khớp trong điều trị cấp cứu: Một số kỹ thuật thường được sử dụng.

Cố định khớp trong điều trị cấp cứu: Một số kỹ thuật thường được sử dụng.

Dùng nẹp (xem Hình: Điều trị bằng bất động khớp: Một số kỹ thuật thường được sử dụng.) có thể được sử dụng để bất động trật khớp vững sau khi nắn. Dùng nẹp không phủ toàn bộ chu vi khớp để có thể chườm lạnh và nới lỏng theo các mức độ Ngoài ra nẹp bất động để giảm phù nề do đó ít khi dẫn tới hội chứng khoang sau nẹp Một số trật khớp ở ngọn chi cần phải dung nẹp cố định sau đó bột cố định nẹp cho đến khi hết sưng nề.

Cố định bằng đai đeo để hỗ trợ khớp trật và giới hạn vận động; điều này rất hiệu quả trong trật khớp mà khi bất động vững quá sẽ gây tác dụng đảo ngược (ví dụ trật khớp vai nếu bất động vững quá sẽ dẫn tới viêm dính khớp vai, vai đông cứng)

Đai tròn cố định tay (một mảnh vải hoặc dây giúp cố định tay vào thân mình) để tay không bị trượt ra ngoài đặc biệt là ban đêm. Đai cố định có thể cuốn xung quanh lưng và qua vùng tổn thương

Bất động kéo dài (> 3- 4 tuần ở người trẻ tuổi) có thể gây cứng khớp, co kéo phần mềm, teo cơ. Những biến chứng này có thể tiến triển nhanh và tồn tại vĩnh viễn đặc biệt là người già. Vận động chủ động chi tổn thương trong vài ngày/tuần sau chấn thương sẽ giảm co rút phần mềm, teo cơ và do đó tăng phục hồi chức năng chi Các nhà trị liệu vật lý có thể khuyên bệnh nhân các bài tự tập trong quá trình cố định để duy trì càng nhiều chức năng càng tốt (ví dụ, vận động khuỷu tay, cổ tay và ban tay nếu vai bị cố định). Sau khi cố định, các nhà trị liệu vật lý có thể cung cấp cho bệnh nhân các bài tập để cải thiện tầm vận động khớp, sức cơ, tăng cường độ vững của khớp tổn thương, do đó giúp ngăn ngừa trật khớp tái phát và giảm chức năng khớp về sau.

Các yếu tố quan trọng trong trật khớp người cao tuổi

Người cao tuổi có xu hướng dễ bị trật khớp (và các chấn thương hệ xương khớp khác) do những điều sau đây:

  • Thường hay bị ngã (ví dụ giảm khả năng nhận cảm thăng bằng do tuổi cao, tác dụng phụ của thuốc làm giảm thăng bằng khi thay đổi tư thế, hạ huyết áp tư thế)

  • Suy giảm khả năng tự bảo vệ khi bị ngã

Đối với bất kì tổn thương hệ cơ xương khớp người già thì mục tiêu điều trị là nhanh chóng để người bệnh quay về với sinh hoạt hang ngày

Bất động chi thường dẫn tới tác dụng đảo ngược (cứng khớp) ở người già Vận động sớm sau chấn thương và vật lý trị liệu rất quan trọng để phục hồi chức năng chi sau chấn thương

Các bệnh lý xương khớp trước đó (ví dụ viêm khớp) có thể ảnh hưởng đến kết quả phục hồi

Những điểm chính

  • Trật khớp dẫn tới tổn thương mạch máu nuôi chi và gây ra hội chứng khoang đe dọa khả năng sống của chi tổn thương và tính mạng bệnh nhân

  • Khám phát hiện gãy xương, tổn thương gân, dây chằng cũng như trật khớp (thỉnh thoảng trì hoãn khám phát hiện tổn thương phần mềm khi mà đã loại trừ tổn thương xương)

  • khám phát hiện tổn thương khớp phía trên và dưới tổn thương.

  • Khám kĩ điểm đau, đặc biệt là khi khám lâm sàng thấy không tổn thương khớp nhưng bệnh nhân vẫn thấy đau (ví dụ đau vai do chấn thương khớp cùng vai đòn - khớp vai không tổn thương)

  • Chụp Xquang để chẩn đoán gãy xương kèm theo cũng như phát hiện trật khớp

  • Ngay lập tức điều trị các tổn thương nghiêm trọng, bất động trật khớp sớm nhất có thể, giảm đau và nắn trật.

  • Sau khi nắn trật cố định khớp sớm nhất có thể bằng bột, nẹp, đai hoặc các vật dụng khác.

  • Cung cấp cho bệnh nhân các hướng dẫn rõ ràng, viết các hướng dẫn chăm sóc sau bó bột.

  • Lựa chọn phương án điều trị để tập vận động sớm, khuyến khích bệnh nhân tập đặc biệt là người già thì tập chức năng sớm sẽ cải thiện tầm vận động, sức cơ và ngăn ngừa trật khớp tái phát

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG