MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Sốt Lassa

Theo

Matthew E. Levison

, MD, Drexel University College of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg7 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg7 2016

Sốt Lassa là một trường hợp nhiễm Arenavirus gây tử vong thường xảy ra ở Tây Phi. Nó có thể liên quan đến nhiều hệ cơ quan. Chẩn đoán là với xét nghiệm huyết thanh học và PCR. Điều trị bao gồm IV ribavirin.

Sự lan truyền sốt Lassa xảy ra ở Nigeria, Liberia và Sierra Leone. Các trường hợp đã xảy ra ở Hoa Kỳ và Vương quốc Anh.

Nguồn bệnh là Mastomys natalensis, loài chuột thường sống ở các ngôi nhà ở châu Phi. Hầu hết các ca bệnh ở người có thể là do nhiễm bẩn thực phẩm với nước tiểu hoặc phân của chuột, nhưng sự lây truyền từ người sang người có thể xảy ra qua nước tiểu, phân, nước bọt, chất nôn, hoặc máu.

Dựa trên số liệu huyết thanh học, người dân bản địa ở các vùng lưu hành có tỉ lệ lây nhiễm rất cao - cao hơn tỷ lệ nhập viện vì sốt Lassa - cho thấy nhiều ca nhiễm bệnh nhẹ và tự khỏi. Tuy nhiên, một số nghiên cứu quan sát của các nhà truyền giáo được gửi tới các vùng lưu hành cho thấy họ có tỷ lệ bệnh nặng và tử vong cao hơn nhiều. Trung Tâm Kiểm Soát và Ngừa Bệnh (CDC) ước tính có khoảng 80% người mắc bệnh có bệnh nhẹ và khoảng 20% bệnh nặng, tổn thương nhiều cơ quan hệ thống.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Thời kỳ ủ bệnh từ 5 đến 16 ngày.

Các triệu chứng của sốt Lassa bắt đầu với sốt tăng dần, suy nhược, khó chịu, và các triệu chứng tiêu hóa (ví dụ như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, khó nuốt, đau dạ dày); các triệu chứng và dấu hiệu viêm gan có thể xảy ra. Trong vòng 4 đến 5 ngày tiếp theo, các triệu chứng tiến triển đến tình trạng kiệt sức với đau họng, ho, đau ngực, và nôn mửa. Đau họng trở nên trầm trọng hơn trong tuần đầu tiên; các đốm vảy trắng hoặc vàng có thể xuất hiện trên amidan, thường kết thành giả mạc

Khoảng 60 đến 80% bệnh nhân, HA tâm thu là <90 mm Hg với áp suất xung< 20 mm Hg, và nhịp tim chậm Sưng mặt và cổ và phù kết mạc xảy ra trong 10 đến 30%. Thỉnh thoảng, bệnh nhân có ù tai, chảy máu cam, xuất huyết từ nướu răng và các vị trí tiêm truyền, phát ban dát sẩn, ho và chóng mặt. Suy giảm thính giác phát triển trong 20%; nó thường là vĩnh viễn.

Bệnh nhân hồi phục lại trong vòng 4-7 ngày. Tiến tới các bệnh nặng dẫn đến sốc, mê sảng, rales phổi, tràn dịch màng phổi, và đôi khi, cơn co giật toàn bộ. Viêm màng ngoài tim đôi khi cũng xảy ra. Mức độ sốt và mức độ tặng men gan tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Di chứng sau đó bao gồm chứng rụng tóc, viêm bờ mi mống mắt, và mù lòa tạm thời.

Chẩn đoán

  • Xét nghiệm PCR hoặc huyết thanh học

Sốt Lassa nghi ngờ ở những bệnh nhân có tiền sử phơi nhiễm nếu họ có tiền triệu nhiễm virut tiếp theo là bệnh không giải thích được của bất kỳ hệ thống cơ quan nào.

Xét nghiệm chức năng gan, xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm huyết thanh học và CBC nên được thực hiện. Protein niệu là phổ biến và có thể tăng mạnh. Mức AST và ALT tăng lên (gấp 10 lần bình thường), cũng như mức LDH.

Các xét nghiệm chẩn đoán nhanh nhất là PCR, nhưng chứng minh cả hai kháng thể IgM Lassa hoặc tăng 4 lần nồng độ kháng thể IgG bằng sử dụng kỹ thuật kháng thể huỳnh quang gián tiếp cũng có giá trị chẩn đoán.

Mặc dù virus có thể được nuôi cấy trong nuôi cấy tế bào, nhưng nuôi cấy không phải xét nghiệm thường qui. Vì nhiễm trùng là một nguy cơ, đặc biệt ở những bệnh nhân có sốt xuất huyết, nuôi cấy nên chỉ được thực hiện trong phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 4.

Chụp X quang phổi nếu nghi ngờ phổi có tổn thương, có thể thấy viêm đáy phổi và tràn dịch màng phổi.

Tiên lượng

Hồi phục hoặc tử vong thường xảy ra từ 7 đến 31 ngày (trung bình từ 12 đến 15 ngày) sau khi các triệu chứng bắt đầu. Ở bệnh nhân mắc bệnh trầm trọng, tổn thương đa cơ quan hệ thống, tỷ lệ tử vong là 16 đến 45%.

Bệnh nghiêm trọng trong kỳ mang thai. Tỷ lệ tử vong là 50 đến 92% ở phụ nữ mang thai hoặc đã sinh trong vòng 1 tháng. Hầu hết phụ nữ mang thai bị xảy thai.

Điều trị

  • Ribavirin

Ribavirin, nếu bắt đầu trong vòng 6 ngày đầu, có thể làm giảm tỷ lệ tử vong lên đến 10 lần. Điều trị bằng ribavirin là 30 mg / kg (tối đa, 2 g) liều nạp theo sau là 16 mg / kg IV (tối đa 1 g / liều) 6 giờ trong 4 ngày, sau đó 8 mg / kg IV (tối đa, 500 mg / liều) q 8 giờ trong 6 ngày. Huyết thanh kháng sốt Lassa đã được thử nghiệm ở những bệnh nhân nặng nhưng chưa được chứng minh là có lợi và hiện tại chưa được khuyến cáo.

Điều trị hỗ trợ, bao gồm việc điều chỉnh nước và điện giải là điều bắt buộc.

Đối với phụ nữ có thai, đặc biệt là trong 3 tháng cuối thai phụ, tăng thải nước tiểu dường như làm giảm tử vong mẹ.

Phòng ngừa

Các biện pháp đề phòng phổ quát, cách ly truyền qua không khí (bao gồm sử dụng kính bảo hộ, mặt nạ hiệu quả cao, phòng áp lực âm và mặt nạ lọc không khí có áp suất dương) và giám sát các tiếp xúc.

Không có vaccine

Những điểm chính

  • Sốt Lassa thường lây truyền qua việc sử dụng thức ăn bị ô nhiễm với chất tiết chuột, nhưng lây truyền từ người sang người có thể xảy ra qua nước tiểu, phân, nước bọt, ói mửa, hoặc máu.

  • Triệu chứng có thể tiến triển từ sốt, suy nhược, khó chịu, và các triệu chứng đương tiêu hóa tới tình trạng kiệt sức với các biểu hiện: đau họng, ho, đau ngực, và nôn; đôi khi sốc, mê sảng, rales phổi, và tràn dịch màng phổi; và đôi khi đến bệnh nặng và sốc.

  • Để chẩn đoán nhanh nhất, hãy sử dụng PCR, nhưng xét nghiệm kháng thể cũng có thể được sử dụng.

  • Sốt Lassa trầm trọng trong giai đoạn thai kỳ; hầu hết phụ nữ có thai bị nhiễm bệnh mất thai nhi.

  • Ribavirin, nếu bắt đầu trong vòng 6 ngày đầu, có thể làm giảm tỷ lệ tử vong lên đến 10 lần; điều trị hỗ trợ, bao gồm điều chỉnh sự mất cân bằng nước và điện giải là điều bắt buộc.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG