honeypot link

MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Tổng quan của bổ sung chế độ ăn

Theo

Melissa G. Marko

, PhD, Nestle Nutrition;


Ara DerMarderosian

, PhD, University of the Sciences

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg1 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2016
Nguồn chủ đề

Chế độ ăn bổ sung là phổ biến nhất trong tất cả các liệu pháp bổ sung và thay thế, chủ yếu bởi vì tính sẵn có, tương đối rẻ tiền và có thể mua mà không cần thông qua chuyên gia chăm sóc sức khoẻ tư vấn.

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) điều chỉnh chế độ ăn uống bổ sung khác với thuốc. FDA quy định chỉ kiểm soát chất lượng và các quy trình sản xuất tốt nhưng không đảm bảo tiêu chuẩn hoá của các thành phần hoạt động hoặc tính hiệu quả.

Định nghĩa

Đạo luật Giáo dục Y tế Bổ sung Chế độ ăn uống (DSHEA) năm 1994 định nghĩa chế độ ăn bổ sung là

  • Bất kỳ sản phẩm nào (ngoại trừ thuốc lá) - trong viên thuốc, viên nang, viên thanh hoặc dạng dịch chứa một vitamin, khoáng chất, thảo mộc hoặc các sản phẩm thực vật khác, amino axit hoặc chất dinh dưỡng khác được biết đến như là một bổ sung cho chế độ ăn uống bình thường.

Ngoài ra, một số hoocmon nhất định, chẳng hạn như dehydroepiandrosterone (DHEA, tiền thân của androgens và estrogen) và melatonin, được quy định như là chất bổ sung chế độ ăn và không phải là thuốc theo toa.

Sự dán nhãn

DSHEA yêu cầu dán nhãn sản phẩm xác định sản phẩm như là một chất bổ sung chế độ ăn và thông báo cho người tiêu dùng rằng các yêu cầu về bổ sung không được đánh giá bởi FDA. Nhãn cũng phải liệt kê mỗi thành phần theo tên, số lượng và tổng trọng lượng và xác định các bộ phận thực vật từ đó các thành phần được dẫn xuất (xem luật DSHEA tại www.fda.gov/RegulatoryInformation/Legislation/default.htm). Các nhà sản xuất được cho phép đưa ra tuyên bố về cấu trúc và chức năng của sản phẩm (ví dụ, tốt cho sức khoẻ đường tiết niệu) nhưng không thể đưa ra hoặc ngụ ý cho sản phẩm như là một loại thuốc hoặc liệu pháp (ví dụ, các điều trị UTIs). Ngày hết hạn cũng phải được bao gồm trên các nhãn sản phẩm đã chuẩn hóa.

An toàn và hiệu quả

Hầu hết những người sử dụng chất bổ sung dinh dưỡng cho rằng chúng có lợi cho sức khoẻ nói chung, an toàn và hiệu quả trong điều trị và/hoặc phòng các điều kiện đặc biệt hoặc cả hai vì chất bổ sung là tự nhiên (ví dụ, dẫn xuất từ thực vật hoặc động vật) và bởi vì một số đã hỗ trợ qua nhiều thế kỷ sử dụng trong các hệ thống y học truyền thống. Tuy nhiên, FDA không yêu cầu các nhà sản xuất thực phẩm bổ sung để chứng minh tính an toàn hoặc hiệu quả (mặc dù bổ sung phải có lịch sử an toàn). Hầu hết các chất bổ sung không được nghiên cứu khắt khe. Đối với hầu hết, các bằng chứng cho thấy sự an toàn hoặc hiệu quả đến từ

  • Sử dụng truyền thống

  • Nghiên cứu trong ống nghiệm

  • Báo cáo một số trường hợp

  • Nghiên cứu động vật

Tuy nhiên, các nhà sản xuất và nhà phân phối của chất bổ sung hiện nay phải báo cáo hàng loạt kết quả bất lợi cho FDA thông qua hệ thống MedWatch. Có một vài chất bổ sung (ví dụ: dầu cá, chondroitin/glucosamine, cây cỏ của St. John) bây giờ đã chứng minh là an toàn và sử dụng phần bổ sung cho các thuốc chuẩn.

Bằng chứng liên quan đến sự an toàn và hiệu quả của các chế độ ăn bổ sung là tăng nhanh chóng và dựa vào các bằng chứng lâm sàng được thực hiện nhiều hơn. Thông tin về các nghiên cứu như vậy hiện có tại Trung tâm quốc gia về Y học cho bổ sung và Thay thế (NCCAM) của Viện Y tế Quốc gia (nccam.nih.gov/research/clinicaltrials).

Nguyên chất và chuẩn hoá

Thiếu quy định và giám sát của chính phủ cũng có nghĩa là chất bổ sung không được theo dõi để đảm bảo rằng chúng chứa các thành phần hoặc số lượng thành phần hoạt động mà nhà sản xuất phải chứa nó. Các chất bổ sung có thể có các thành phần không được liệt kê, có thể mất hoạt tính hoặc gây hại (ví dụ, các độc tố tự nhiên, vi khuẩn, thuốc trừ sâu, chì hoặc các kim loại nặng khác, thuốc nhuộm không được chấp thuận) hoặc có thể chứa số lượng nhiều các thành phần hoạt động thay đổi, đặc biệt khi toàn bộ thảo mộc được nghiền hoặc tạo ra từ chiết xuất. Người tiêu dùng có nguy cơ nhận được ít hơn, nhiều hơn hoặc, trong một số trường hợp, không có các thành phần hoạt chất nào, nếu các thành phần hoạt chất đã được biết đến. Hầu hết các sản phẩm thảo dược là hỗn hợp của một số chất và thành phần hoạt động mạnh nhất không phải lúc nào cũng được biết đến.

Việc thiếu sự chuẩn hóa không chỉ có nghĩa là các sản phẩm từ các nhà sản xuất khác nhau có thể khác nhau mà còn các lô riêng biệt được sản xuất bởi cùng một nhà sản xuất cũng có thể khác nhau. Sự khác biệt về sản phẩm là một nguồn đặc biệt khó khăn trong tiến hành các thử nghiệm lâm sàng nghiêm ngặt và so sánh kết quả giữa các thử nghiệm khác nhau. Tuy nhiên, một số chất bổ sung đã được chuẩn hóa và ghi rõ trên nhãn theo tiêu chuẩn.

Các quy định mới chỉ đạo về sản xuất bổ sung ở Mỹ bao gồm các quy tắc về thực hành sản xuất tốt (GMP). Các quy tắc này đưa ra các tiêu chuẩn chặt chẽ yêu cầu cơ sở sản xuất và dụng cụ phải sạch sẽ, nguyên liệu thô thuần khiết và không bị làm bẩn. GMP cũng đảm bảo ghi nhãn chính xác, đóng gói và bảo quản sản phẩm hoàn tất.

Các liên quan khác

Các lĩnh vực bổ sung liên quan bao gồm

  • Sử dụng dinh dưỡng bổ sung thay vì các thuốc quy định

  • Sự ổn định của chất bổ sung (đặc biệt sản phẩm thảo dược) được sản xuất 1 lần

  • Độc tố

  • Tương tác giữa chất bổ sung và thuốc

  • Đóng góp vào chẩn đoán không chính xác

Hầu hết các thông tin về những liên quan này đến từ các báo cáo cá nhân lẻ tẻ (xem {blank} Một số chất dinh dưỡng bổ sung - các tương tác thuốc) và một số tài liệu tham khảo.

Bất chấp những lo ngại này, nhiều bệnh nhân tin tưởng vào lợi ích của các chất bổ sung và tiếp tục sử dụng chúng dù bác sĩ có chỉ định hay không. Bệnh nhân không muốn tiết lộ có thể muốn che giấu sử dụng chế độ ăn bổ sung của họ. Vì lý do này, tiền sử bệnh nhân ngoại trú nên được khai thác định kỳ một cách rõ ràng về việc đã và đang sử dụng liệu pháp bổ sung và thay thế, bao gồm cả dinh dưỡng bổ sung. Nhiều bác sĩ kết hợp một số chất bổ sung vào thực hành lâm sàng; vì họ cho rằng lợi ích của các chất bổ sung đã được chứng minh, bệnh nhân sẽ sử dụng an toàn các chất bổ sung và bác sĩ tin rằng các chất bổ sung thực sự an toàn và hiệu quả.

Những mối liên quan chung về việc sử dụng chất bổ sung bao gồm:

  • Hiệu quả của giả dược có thể mô phỏng hiệu quả thực sự, đặc biệt nếu bệnh nhân và/hoặc bác sĩ tin tưởng vào việc bổ sung.

  • Đáp ứng với liệu pháp bổ sung, qua giả dược hoặc cách khác, có thể bị nhầm lẫn coi là bằng chứng xác nhận chẩn đoán, xác nhận này không chính xác.

Tài liệu hướng dẫn bệnh nhân sử dụng chất bổ sung một cách an toàn rất ít. Tuy nhiên, một số chuyên gia tin rằng toàn bộ các vấn đề do dinh dưỡng bổ sung gây ra là rất hiếm với toàn bộ số liều đã nghiên cứu, nếu sản xuất chính xác thì sẽ thực sự an toàn. Tóm lại, các chuyên gia này khuyên nên mua các chất bổ sung từ nhà sản xuất nổi tiếng và nhiều khuyến cáo mua thực phẩm bổ sung được sản xuất tại Đức bởi vì chúng được quy định là thuốc và do đó giám sát chặt chẽ hơn ở Mỹ.

Các chất bổ sung sau đây là chất bổ sung phổ biến nhất, có hiệu quả hoặc có một số câu hỏi về sự an toàn của chúng. Thông tin đầy đủ hơn có sẵn qua trang web NCCAM (www.nccam.nih.gov/).

Bảng
icon

Một số chất dinh dưỡng bổ sung - các tương tác thuốc

Dinh dưỡng bổ sung

Thuốc bị ảnh hưởng

Sự tương tác

Thuốc Barbiturate và các thuốc an thần khác

Có thể tăng cường hoặc kéo dài tác dụng của thuốc an thần bởi vì các loại dầu dễ bay hơi có thêm các hiệu quả

Chất bổ sung sắt

Có thể làm giảm hấp thu sắt qua tanin trong thực vật

Warfarin

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu vì hoa cúc la mã chứa phytocoumarins, có thể có thêm các hiệu quả

Các thuốc gây tổn thương gan tiềm ẩn có thể bị chuyển hóa bởi các enzyme cytochrome P-450 (ví dụ, amiodarone, steroid đồng hoá, ketoconazole, methotrexate)

Có thể chuyển hóa chậm của các thuốc này và tăng nguy cơ độc gan nếu dùng cho > 8 tuần

Thuốc ức chế miễn dịch (ví dụ, corticosteroid, cyclosporine)

Có thể giảm tác dụng ức chế miễn dịch thông qua kích thích tế bào T

Ma hoàng

Thuốc kích thích (ví dụ, caffeine, epinephrine, phenylpropanolamine, pseudoephedrine)

Tăng tác dụng kích thích của các thuốc khác, tăng nguy cơ nhịp tim đập nhanh hoặc không đều và tăng huyết áp

MAOIs

Có thể tăng cường tác dụng của các thuốc này và tăng nguy cơ bị tác dụng phụ (như nhức đầu, run, nhịp tim không đều hoặc nhanh, tăng huyết áp)

Các thuốc chống đau nửa đầu (ví dụ, ergotamine-xem Bảng: Một số đặc trưng của bệnh lý đau đầu theo nguyên nhân)

Có thể làm tăng nhịp tim và BP vì nó có tác động tăng hiệu quả co mạch

Các thuốc kháng tiểu cầu

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu vì cỏ thơm chế sự kết tập tiểu cầu (có thêm tác dụng)

Chất bổ sung sắt

Có thể làm giảm hấp thu sắt qua tanin trong thực vật

NSAIDs

Hiệu quả của cỏ thơm trong phòng và quản lý chứng nhức đầu giảm bởi NSAIDs

Warfarin

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu vì warfarin có thể có thêm tác dụng

Thuốc chống tăng huyết áp

Có thể làm tăng thêm hiệu quả thuốc chống tăng huyết áp

Các thuốc kháng tiểu cầu

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu vì những thuốc này làm tăng ức chế ngưng tập tiểu cầu và tác dụng tiêu sợi huyết của tỏi

Các chất ức chế protease (ví dụ, saquinavir)

Nồng độ các chất ức chế protease trong máu giảm bởi tỏi

Warfarin

Có thể tăng nguy cơ chảy máu bằng cách tăng hiệu quả chống đông máu của warfarin

Thuốc kháng ngưng tập tiểu cầu

Có thể tăng nguy cơ chảy máu bằng cách làm tăng sự ức chế sự ngưng tập tiểu cầu

Warfarin

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu bằng cách tăng hiệu quả chống đông máu của warfarin

Thuốc chống co giật (ví dụ phenytoin)

Có thể giảm hiệu quả của thuốc chống co giật vì tạp chất trong các chế phẩm bạch quả có thể giảm tác dụng chống co giật

MAOIs (ví dụ, tranylcypromin)

Có thể tăng cường tác dụng của các thuốc này và tăng nguy cơ bị các tác dụng phụ (như nhức đầu, run, giai doạn hưng cảm)

NSAIDs

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu bằng cách tăng cường ức chế sự chống ngưng tập tiểu cầu

Warfarin

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu bằng cách tăng hiệu quả chống đông máu của warfarin

Các thuốc chống tăng đường huyết (ví dụ, glipizide)

Có thể tăng cường tác dụng của các thuốc này, gây ra hạ đường huyết

Aspirin và các NSAID khác

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu bằng cách tăng cường ức chế chống ngưng tập tiểu cầu

Các corticosteroid

Có thể tăng cường thêm tác dụng của corticosteroid bởi vì nhân sâm có tác dụng chống viêm

Digoxin

Có thể làm tăng mức digoxin

Estrogens

Có thể làm tăng tác dụng bất lợi của estrogen

MAOIs

Có thể nguyên nhân nhức đầu, run và các giai đoạn hưng cảm

Opioid

Có thể làm hiệu lực của opioid

Warfarin

Có thể làm tăng nguy cơ chảy máu bằng cách tăng hiệu quả chống đông máu của warfarin

Warfarinheparin

Có thể đối kháng các hiệu quả của warfarinheparin, làm tăng nguy cơ nghẽn mạch huyết khối

Warfarin

Có thể giảm hiệu lực của warfarin, làm tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối

Thuốc an thần (ví dụ, barbiturates, benzodiazepine)

Có thể tăng cường hoặc kéo dài tác dụng của thuốc an thần

Thuốc chống loạn nhịp

Có thể làm tăng nguy cơ nhịp tim bất thường, làm cho liệu pháp chống loạn nhịp ít hiệu quả

Thuốc chống tăng huyết áp

Có thể tăng giữ muối và nước và tăng BP, làm cho thuốc chống tăng huyết áp kém hiệu quả

Digoxin

Có thể làm giảm nồng độ K, làm tăng nguy cơ của độc tính digoxin

Thuốc lợi tiểu

Hầu hết có tác dụng hạ ka kali, một số có tác dụng giữ kali (ví dụ, spironolactone)

MAOIs

Có thể tăng cường tác dụng của các thuốc này và tăng nguy cơ tác dụng bất lợi (ví dụ: nhức đầu, run, giai đoạn hưng cảm)

Các thuốc chống tăng đường huyết

Có thể tăng cường tác dụng của các thuốc này, nguyên nhân gây hạ đường huyết

Các chất ức chế protease (ví dụ, indinavir, saquinavir)

Có thể gây trở ngại với chuyển hóa enzym, làm giảm nồng độ indinavir trong máu

Estrogens(ví dụ, thuốc tránh thai đường uống)

Có thể tăng hiệu quả của những loại thuốc này

Thuốc Cyclosporine

Có thể giảm mức độ cyclosporine trong máu, tăng nguy cơ loại bỏ ghép tạng

Digoxin

Có thể giảm mức độ digoxin trong máu, tạo cho nó ít hiệu quả, với các kết quả tiềm ẩn nguy hiểm.

Chất bổ sung sắt

Có thể làm giảm hấp thu sắt

MAOIs

Có thể làm tăng tác động của MAOIs, có thể gây ra BP rất cao cần điều trị cấp cứu

Các chất ức chế sao chép ngược không nucleoside

Tăng cường chuyển hóa của những thuốc này, giảm hiệu quả của chúng

Thuốc tránh thai đường uống

Tăng cường chuyển hóa của những thuốc này, giảm hiệu quả của chúng

Các thuốc nhạy cảm với ánh sáng (ví dụ, lansoprazole, omeprazole, piroxicam, thuốc kháng sinh sulfonamid)

Có thể tăng độ nhạy sáng mặt trời

Các chất ức chế protease

Có thể làm giảm chất ức chế protease trong máu, giảm hiệu quả của chúng

SSRIs (ví dụ, fluoxetine, paroxetine, sertraline)

Có thể tăng hiệu quả của những loại thuốc này

Thuốc chống trầm cảm ba vòng

Có thể tăng hiệu quả của những loại thuốc này

Warfarin

Có thể làm giảm mức độ warfarin trong máu, làm tăng nguy cơ nghẽn mạch huyết khối

Thuốc an thần (ví dụ, barbiturates, benzodiazepine)

Có thể tăng cường hiệu quả của các thuốc an thần

*Cần thận trọng khi sử dụng dinh dưỡng bổ sung vì các sản phẩm này không được chuẩn hóa và thông tin sử dụng chúng liên tục thay đổi. Sự tương tác giữa các chất được công bố không làm tăng sự thận trọng khi sử dụng. Trước khi kê bất kỳ đơn thuốc, chuyên gia y tế nên hỏi các bệnh nhân xem họ đang dùng dinh dưỡng bổ sung không và nếu có thì cụ thể dùng loại nào. Các chuyên gia phải xác định bất kỳ tương tác bất lợi tiềm ẩn nào của thuốc và chất bổ sung khi bệnh nhân sử dụng, sau đó xác định các loại thuốc và liều lượng thích hợp.

Chất bổ sung chứa cây ma hoàng bị cấm bán ở Hoa Kỳ.

Chất này là đúng, cam thảo tự nhiên, không phổ biến hơn, kẹo cam thảo có hương vị nhân tạo.

MAOIs = chất ức chế monoamine oxidase; NSAIDs = thuốc chống viêm không steroid; SSRIs = Các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc.

Thêm thông tin

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG