MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Loãng xương

Theo

Marcy B. Bolster

, MD, Harvard Medical School

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg4 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg5 2017
Nhấp ở đây để Hướng dẫn bệnh nhân
Nguồn chủ đề

Loãng xương là bệnh xương chuyển hóa tiến triển làm giảm mật độ xương (khối lượng xương trên một đơn vị thể tích), kèm suy giảm cấu trúc xương. Xương yếu dẫn đến gãy xương với chấn thương nhỏ hoặc không rõ chấn thương, ở cột sống lưng, thắt lưng, cổ tay và khớp háng (gọi là gãy xương do loãng xương). Chẩn đoán bằng phương pháp chụp hấp thụ tia x năng lượng kép (DXA scan) hoặc bằng chẩn đoán khẳng định gãy xương do loãng xương. Điều trị và dự phòng bao gồm việc thay đổi các yếu tố nguy cơ, bổ sung canxi và vitamin D, tập thể dục để tăng tối đa sức mạnh xương và cơ, cải thiện thăng bằng, và giảm thiểu nguy cơ ngã, và liệu pháp dùng thuốc để bảo vệ khối xương hoặc kích thích sự hình thành xương mới.

Sinh lý bệnh

Xương liên tục được hình thành và tiêu hủy. Thông thường, sự tạo xương và hủy xương diễn ra gần như cân bằng. Các tế bào tạo xương (các tế bào tạo nên chất nền của xương và sau đó khoáng hóa xương) và tế bào hủy xương (tế bào tiêu xương) được điều khiển bởi hormone tuyến cận giáp (PTH), calcitonin, estrogen, vitamin D, các cytokine khác nhau, và các yếu tố tại chỗ khác như prostaglandin.

Khối lượng xương đỉnh ở nam giới và nữ giới đạt được ở độ tuổi 30. Người da đen có khối lượng xương cao hơn người da trắng và người châu Á, trong khi người Tây Ban Nha có giá trị trung bình. Nam giới có khối lượng xương cao hơn phụ nữ. Sau khi đạt được khối lượng xương đỉnh, mật độ xương được duy trì trong khoảng 10 năm, trong thời gian đó sự tạo xương gần bằng sự hủy xương. Sau đó, mất xương xảy ra ở tốc độ khoảng 0,3 đến 0,5% / năm. Bắt đầu từ thời kỳ mãn kinh, mất xương sẽ tăng nhanh ở phụ nữ, lên khoảng 3 đến 5% / năm trong khoảng 5 đến 7 năm và sau đó tỷ lệ mất xương sẽ giảm.

Mất xương do loãng xương ảnh hưởng đến xương vùng vỏ xương và bè xương. Chiều dày vỏ, số lượng, kích thước của bè xương giảm, làm tăng độ xốp xương. Bè xương có thể bị đứt gãy gián đoạn hoặc hoàn toàn bị hủy hoại. Mất xương ở xương xốp có thể xảy ra nhanh hơn ở xương vỏ do xương ở đó rỗng hơn và chu chuyển xương nhanh hơn. Tuy nhiên cả sự mất xương ở cả xương xốp và xương vỏ đều góp phần làm yếu xương.

Gãy xương do loãng xương

Gãy xương do loãng xương xảy ra sau chấn thương nhẹ. Gãy xương do ngã từ tư thế đứng hoặc thấp hơn, kể cả ngã từ giường, được coi gãy xương do loãng xương. Các vị trí phổ biến nhất đối với gãy xương do loãng xương là:

  • Đầu dưới xương quay

  • Cột sống (gãy lún thân đốt sống - là dạng gãy xương thường gặp nhất do loãng xương)

  • Cổ xương đùi

  • Mấu chuyển lớn

Các vị trí khác có thể bao gồm đầu trên xương cánh tay và xương chậu.

Phân loại

Loãng xương được chia thành loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát. Các vị trí gãy xương trong loãng xương nguyên phát và thứ phát là tương tự nhau.

Loãng xương nguyên phát

Hơn 95% bệnh loãng xương ở phụ nữ và khoảng 80% ở nam giới là nguyên phát. Hầu hết các trường hợp xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh và nam giới lớn tuổi. Suy sinh dục là một yếu tố nguy cơ quan trọng ở cả nam và nữ. Các yếu tố khác có thể làm tăng sự mất xương ở những bệnh nhân loãng xương nguyên phát bao gồm chế độ ăn thiếu canxi, nồng độ vitamin D thấp, một số loại thuốc và cường cận giáp trạng. Một số bệnh nhân có lượng canxi đưa vào không đủ trong suốt thời kỳ sinh trưởng của xương và do đó không bao giờ đạt được khối lượng xương đỉnh.

Cơ chế chính của mất xương là tăng sự hủy xương, làm giảm khối lượng xương và tổn thương vi kiến trúc, nhưng đôi khi là do sự tạo xương bị suy giảm. Cơ chế mất xương có thể bao gồm:

  • Thay đổi tại chỗ các cytokine hủy xương, như tăng các cytokine kích thích quá trình hủy xương

  • Rối loạn đáp ứng tạo xương trong quá trình tái tạo xương (có thể do giảm số lượng và khả năng hoạt động của các tạo cốt bào liên quan đến tuổi)

  • Các yếu tố khác như suy giảm các yếu tố tăng trưởng tại chỗ và toàn thân.

Gãy xương do loãng xương hiếm khi xảy ra ở trẻ em, thanh thiếu niên, phụ nữ tiền mãn kinh hoặc nam giới <50 tuổi với chức năng tuyến sinh dục bình thường và không phát hiện nguyên nhân thứ phát, ngay cả ở những người có khối lượng thấp (Z score thấp trên đo mật độ xương bằng hấp thụ tia X năng lượng kép [DXA]). Những trường hợp hiếm gặp này được xem như là loãng xương tự phát.

Loãng xương thứ phát

Loãng xương thứ phát chiếm < 5% bệnh loãng xương ở phụ nữ và khoảng 20% ở nam giới. Các nguyên nhân trong bảng X (xem Bảng: Nguyên nhân gây loãng xương thứ phát) cũng có thể làm tăng tốc độ mất xương và tăng nguy cơ gãy xương ở những bệnh nhân bị loãng xương nguyên phát.

Bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính có nhiều lý do giải thích khối lượng xương thấp, bao gồm cường cận giáp trạng thứ phát, tăng phosphate huyết thanh, thiếu calcitriol, bất thường của canxi huyết thanh và vitamin D, nhuyễn xương và chu chuyển xương thấp.

Bảng
icon

Nguyên nhân gây loãng xương thứ phát

Ung thư (ví dụ, đa u tủy xương)

COPD (do bản thân bệnh cũng như hút thuốc lá và / hoặc điều trị bằng glucocorticoid)

Thuốc (ví dụ, glucocorticoid, thuốc chống co giật, medroxyprogesterone, thuốc ức chế aromatase, rosiglitazone, pioglitazone, điều trị hormon thay thế tuyến giáp, heparin, ethanol, thuốc lá)

Bệnh nội tiết (ví dụ, tăng sản xuất glucocorticoid, cường cận giáp, cường giáp, suy sinh dục, tăng prolactin máu, đái tháo đường)

Tăng canxi niệu

Ngộ độc vitamin A

Giảm vitamin D

Bất động

Bệnh gan

Trạng thái không trọng lượng kéo dài (trong không gian)

Các yếu tố nguy cơ

Các stress, bao gồm mang vác các đồ vật là cần thiết cho quá trình tạo xương. Do vậy bất động hoặc ít vận động kéo dài sẽ gây mất xương. Chỉ số khối cơ thể thấp là yếu tố nguy cơ làm giảm khối lượng xương. Một số sắc tộc, bao gồm người da trắng và người châu Á, có nguy cơ cao bị loãng xương. Sự thiếu hụt canxi, phốt pho, magiê và vitamin D dẫn tới mất xương, cũng như nhiễm toan nội sinh. Hút thuốc lá và uống rượu cũng ảnh hưởng xấu đến khối lượng xương. Tiền sử gia đình có loãng xương, đặc biệt là gãy cổ xương đùi, cũng làm tăng nguy cơ . Những bệnh nhân đã bị gãy một xương do loãng xương có nguy cơ cao bị gãy các xương khác có biểu hiện lâm sàng và gãy lún thân đốt sống không triệu chứng.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Bệnh nhân loãng xương thường không có triệu chứng cho đến khi bị gãy xương. Các gãy xương ngoài cột sống thường có triệu chứng, nhưng khoảng 2/3 gãy xương cột sống là không có triệu chứng (mặc dù bệnh nhân có thể đau lưng mạn tính do các nguyên nhân khác như thoái hóa khớp). Gãy lún thân đốt sống bắt đầu với triệu chứng đau lưng cấp tính, không lan, tăng lên khi chịu trọng lực, khám có thể thấy dấu hiệu đau chói tại một điểm và thường bắt đầu giảm dần trong 1 tuần. Tuy nhiên, đau cột sống còn có thể kéo dài vài tháng hoặc dai dẳng.

Gãy lún nhiều thân đốt sống lưng có thể gây gù lưng, kèm quá ưỡn cột sống cổ (dowager’s hump). Tải trọng bất thường trên cơ cạnh cột sống và dây chằng có thể gây đau nhức thắt lưng mạn tính. Bệnh nhân có thể khó thở do giảm thể tích lồng ngực và/hoặc đau tức bụng do ổ bụng bị chèn ép khi xương sườn ép vào xương cánh chậu.

Chẩn đoán

  • Đo hấp thụ tia x năng lượng kép (DXA)

  • X-quang thường quy (thường được thực hiện với một lý do khác)

DXA

Đo mật độ xương bằng tia X năng lượng kép giúp sàng lọc những người có nguy cơ, là biện pháp định lượng mất xương và để theo dõi người đang điều trị (1).

Đo mật độ xương bằng phương pháp DXA được khuyến cáo cho những bệnh nhân sau:

  • Tất cả phụ nữ ≥ 65 tuổi

  • Phụ nữ từ tuổi mãn kinh đến 65 tuổi có các yếu tố nguy cơ, bao gồm tiền sử gia đình loãng xương, chỉ số khối cơ thể thấp và hút thuốc lá và/hoặc thuốc có nguy cơ cao gây mất xương (ví dụ glucocorticoid)

  • Bệnh nhân (nam và nữ) ở mọi độ tuổi bị gãy xương do loãng xương

  • Bệnh nhân có bằng chứng hình ảnh về mật độ xương giảm hoặc xẹp đốt sống không triệu chứng phát hiện tình cờ trên hình ảnh

  • Bệnh nhân có nguy cơ loãng xương thứ phát.

Mặc dù mật độ xương thấp (và tăng nguy cơ gãy xương) có thể gợi ý trên phim XQ, cần được xác định bởi đo mật độ xương.

DXA được sử dụng để đo mật độ khoáng xương (g / cm2); xác định thiểu xương hoặc loãng xương (nếu không nhuyễn xương), dự đoán nguy cơ gãy xương, và có thể được sử dụng để theo dõi đáp ứng điều trị. Có thể đo mật độ xương của cột sống thắt lưng, háng, đầu dưới xương quay, hoặc toàn bộ cơ thể. (CT định lượng có thể tạo những phép đo tương tự trên cột sống hoặc cổ xương đùi nhưng hiện tại không có sẵn). Mật độ xương được đo tốt nhất tại hai vị trí, bao gồm cột sống thắt lưng và một cổ xương đùi; tuy nhiên, ở một số trung tâm, được đo ở cột sống và cả hai cổ xương đùi

Nếu không đo được tại cổ xương đùi hoặc cột sống thắt lưng (ví dụ như ở bệnh nhân thay khớp háng nhân tạo), có thể đo tại đầu dưới xương quay (gọi là đo 1/3 xương quay trên kết quả mật độ xương). Đầu dưới xương quay cũng nên được đo ở bệnh nhân có cường cận giáp vì đây là vị trí phổ biến nhất của mất xương ở cường cận giáp.

Kết quả DXA được báo cáo bằng T-score và Z-score. T-score tương ứng với số độ lệch chuẩn giữa mật độ xương của bệnh nhân với với khối lượng xương đỉnh của một người khỏe mạnh, thanh niên cùng giới tính và dân tộc. Tổ chức Y tế thế giới thiết lập các giá trị cắt cho T score xác định thiểu xương và loãng xương. T score <-1,0 và> -2,5 định nghĩa là thiểu xương T score -≤ -2.5 định nghĩa loãng xương.

Z score tương ứng với số độ lệch chuẩn mà mật độ xương của bệnh nhân khác với mật độ xương của người cùng lứa tuổi và cùng giới và nên dùng cho trẻ em, phụ nữ tiền mãn kinh, hoặc nam <50 tuổi. Nếu Z score ≤ -2.0, mật độ xương thấp đối với tuổi của bệnh nhân và cần tìm các nguyên nhân mất xương thứ phát

Đo DXA trung tâm cũng có thể đánh giá các biến dạng ở phần dưới cột sống lưng và và cột sống thắt lưng, một phương pháp được gọi là phân tích gãy xương cột sống (VFA - vertebral fracture analysis). Các biến dạng cột sống, thậm chí cả những trường hợp không có triệu chứng lâm sàng, đều được chẩn đoán loãng xương và dự đoán nguy cơ gãy xương trong tương lai. VFA giá trị chẩn đoán cao ở những bệnh nhân giảm chiều cao ≥ 3 cm.

Chỉ định điều trị bằng thuốc dựa trên nguy cơ gãy xương, phụ thuộc vào kết quả DXA cũng như các yếu tố khác. Các thang điểm đánh giá nguy cơ gãy xương (FRAX) (WHO Fracture Risk Assessment Tool) dự đoán xác suất 10 năm gãy xương lớn (cổ xương đùi, cột sống, cẳng tay) hoặc gãy cổ xương đùi ở bệnh nhân không được điều trị. Thang điểm bao gồm các yếu tố nguy cơ cao gây mất xương và gãy xương. Nếu điểm FRAX vượt quá ngưỡng (ở Mỹ, nguy cơ gãy xương chính ≥ 20% hoặc nguy cơ gãy cổ xương đùi > 3%) nên điều trị bằng thuốc.

Theo dõi việc mất xương liên tục hoặc đáp ứng điều trị định kỳ nên được thực hiện trên một máy DXA, và khi so sánh nên sử dụng mật độ xương (g/cm2) hơn là T score. Ở những bệnh nhân bị thiểu xương, DXA nên được lặp lại định kỳ để xác định xem có sự mất xương tiếp diễn hoặc xuất hiện loãng xương cần điều trị. Tần suất đo DXA theo dõi thay đổi khác nhau tùy từng bệnh nhân. DXA thường được thực hiện mỗi 2 đến 3 năm nhưng đôi khi có thể được thực hiện ít thường xuyên hơn, ví dụ, nếu mật độ xương bình thường và nguy cơ gãy xương thấp. Ở những bệnh nhân đang điều trị loãng xương, DXA nên được lặp lại, thường là khoảng từ 2 đến 3 năm, nhưng đôi khi làm thường xuyên hơn ở bệnh nhân dùng glucocorticoids. Mật độ khoáng xương ổn định hoặc cải thiện dự đoán nguy cơ gãy xương thấp hơn. Theo dõi mật độ xương bằng việc đo DXA lặp lại có thể giúp xác định bệnh nhân có nguy cơ gãy xương cao hơn do đáp ứng chưa tối ưu đối với điều trị loãng xương (1). Bệnh nhân đang điều trị loãng xương,có mật độ xương giảm đáng kể khi đo DXA liên tiếp nên được đánh giá tuân thủ điều trị và các nguyên nhân thứ phát gây mất xương.

X-quang quy ước

Xquang xương cho thấy hình ảnh tăng thấu quang và mất cấu trúc bè xương, khi khoảng 30% xương đã bị mất. Tuy nhiên, các phim XQ thường rất quan trọng để ghi lại những đường gãy do mất xương. Giảm chiều cao thân đốt sống và tăng độ lõm của mặt trên và mặt dưới thân đốt sống là đặc trưng nổi bật của gãy lún thân đốt sống. Gãy xương đốt sống lưng có thể gây ra đốt sống hình chêm. Ở các xương dài, mặc dù vỏ xương có thể mỏng, màng xương vẫn đều đặn. Trường hợp gãy lún thân đốt sống ở đốt sống lưng T4 hoặc cao hơn thường do ung thư hơn là loãng xương. Cần chụp Xquang cột sống ở những bệnh nhân lớn tuổi bị đau lưng nhiều và ấn đau thân đốt sống.

Loãng xương do glucocorticoid có thể gây gãy xương sườn bên cạnh các vị trí gãy xương thường gặp do loãng xương khác. Cường cận giáp có thể được gợi ý khi có tăng hủy xương dưới màng xương hoặc tổn thương xương dạng nang (hiếm gặp). Nhuyễn xương có thể có tổn thương trên Xquang tương tự như loãng xương (xem Thiểu xương: Khác biệt giữa thiểu xương và nhuyễn xương).

icon

Thiểu xương: Khác biệt giữa thiểu xương và nhuyễn xương

Thiểu xương là giảm khối lượng xương. Hai bệnh chuyển hóa xương làm giảm khối xương: thiểu xương và nhuyễn xương.

Trong loãng xương, khối lượng xương giảm, nhưng tỷ lệ chất khoáng trên chất nền của xương là bình thường.

Trong nhuyễn xương, tỷ lệ chất khoáng trên chất nền của xương thấp.

Loãng xương là hậu quả từ một sự kết hợp của khối lượng xương đỉnh thấp, tăng hủy xương và giảm tạo xương. Nhuyễn xương là do khoáng hóa kém, thường là do thiếu hụt vitamin D trầm trọng hoặc chuyển hóa vitamin D bất thường (xem Vitamin D). Nhuyễn xương có thể do các rối loạn gây cản trở hấp thu vitamin D (ví dụ:, bệnh celiac) và bởi một số loại thuốc (ví dụ, phenytoin, phenobarbital). Loãng xương phổ biến hơn nhiều so với bệnh nhuyễn xương ở Mỹ. Hai rối loạn có thể cùng tồn tại, và biểu hiện lâm sàng tương tự; hơn nữa, thiếu vitamin D từ nhẹ đến vừa có thể xảy ra ở bệnh loãng xương.

Nên nghi ngờ nhuyễn xương nếu nồng độ vitamin D luôn thấp. Để phân biệt rõ ràng giữa hai rối loạn, bác sĩ lâm sàng có thể làm sinh thiết xương đánh dấu bằng tetracycline.

Các xét nghiệm khác

Cần đánh giá các nguyên nhân thứ phát của mất xương ở bệnh nhân có Z score ≤ -2,0 hoặc nếu trên lâm sàng có nghi ngờ nguyên nhân gây mất xương. Xét nghiệm thường bao gồm:

  • Canxi huyết thanh, magiê và phốt pho

  • Nồng độ 25OH vitamin D3

  • Các xét nghiệm chức năng gan, bao gồm cả phosphatase kiềm (trong trường hợp giảm phospho máu)

  • Nồng độ intact PTH (để chẩn đoán cường cận giáp)

  • Testosterone huyết thanh ở nam giới (để chẩn đoán suy sinh dục)

  • Định lượng canxi và creatinine trong nước tiểu 24 giờ (phát hiện tăng calci niệu)

Các xét nghiệm khác như TSH hoặc FT4 để phát hiện cường giáp, định lượng cortisol tự do trong nước tiểu, công thức máu và các xét nghiệm khác để loại trừ ung thư, đặc biệt là đa u tủy xương (ví dụ như điện di protein huyết thanh và nước tiểu), cần được xem xét tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng.

Bệnh nhân giảm cân nên được sàng lọc các bệnh đường tiêu hóa (ví dụ:, giảm hấp thu, bệnh celiac, viêm ruột) cũng như ung thư. Sinh thiết xương được dành riêng cho các trường hợp bất thường (ví dụ như những bệnh nhân trẻ tuổi bị gãy xương do loãng xương và không có nguyên nhân rõ ràng, những bệnh nhân bị bệnh thận mãn tính có thể có các rối loạn xương khác, bệnh nhân có mức vitamin D rất thấp trong trường hợp nghi ngờ bị nhuyễn xương).

Nồng độ CTX (C-telopeptide cross-links) trong huyết thanh hoặc NTX (N-telopeptide cross-links) trong nước tiểu phản ánh tình trạng tăng hủy xương. Mặc dù mức độ tin cậy trên lâm sàng không cao nhưng CTX và NTX có thể hữu ích trong việc theo dõi đáp ứng thuốc hoặc trong giai đoạn nghỉ thuốc.

Tài liệu tham khảo để chẩn đoán

  • 1. Leslie WD, Majumdar SR, Morin SN, Lix LM: WD, Majumdar SR, Morin SN, Lix LM: Change in bone mineral density is an indicator of treatment-related antifracture effect in routine clinical practice: A registry-based cohort study. Ann Intern Med 165(7):465–472, 2016. doi: 10.7326 / M15-2937.

Điều trị

  • Thay đổi yếu tố nguy cơ

  • Bổ sung Canxi và vitamin D

  • Các thuốc chống hủy xương (ví dụ, bisphosphonates, liệu pháp thay thế hormon, điều biến chọn lọc thụ thể estrogen, thuốc ức chế hoạt hóa thụ thể của yếu tố nhân kappa-B [RANKL] [denosumab]

  • Thuốc tăng chuyển hóa (PTH)

Mục tiêu điều trị loãng xương là bảo vệ khối lượng xương, ngăn ngừa gãy xương, giảm đau, và duy trì chức năng.

Duy trì khối lượng xương

Thuốc có thể làm chậm quá trình mất xương. Bổ sung đủ Canxi và vitamin D và hoạt động thể chất là chìa khoá cho mật độ xương tối ưu. Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được.

Thay đổi yếu tố nguy cơ có thể bao gồm tập thể dục chịu trọng lượng, hạn chế caffeine, rượu và ngừng hút thuốc. Lượng bài tập chịu tải trọng chưa được xác định, nhưng khuyến khích tập trung bình 30 phút/ngày. Bác sỹ vật lý trị liệu cần đưa ra chương trình tập thể lực và hướng dẫn cách để thực hiện an toàn các hoạt động hàng ngày để giảm thiểu nguy cơ té ngã và gãy lún thân đốt sống.

Tất cả nam giới và phụ nữ cần bổ xung ít nhất 1000 mg canxi nguyên tố mỗi ngày. Lượng từ 1200 đến 1500 mg / ngày (bao gồm cả khẩu phần ăn) được khuyến cáo cho phụ nữ sau mãn kinh và đàn ông lớn tuổi và trong thời kỳ tăng nhu cầu, như dậy thì, mang thai và cho con bú. Canxi lý tưởng nên được hấp thụ từ các nguồn thực phẩm, sử dụng thực phẩm chức năng nếu chế độ ăn uống không đủ. Canxi bổ sung được sử dụng phổ biến nhất là canxi cacbonat hoặc canxi citrat. Canxi citrat được hấp thu tốt hơn ở những bệnh nhân bị giảm acid clohidric dạ dày, nhưng cả hai đều được hấp thụ tốt khi dùng chung với bữa ăn. Bệnh nhân dùng thuốc ức chế bơm proton hoặc những bệnh nhân đã phẫu thuật dạ dày nên dùng canxi citrat để đảm bảo tối đa hấp thụ. Canxi cần được uống liều 500 đến 600 mg/ lần x 2-3 lần/ngày.

Bổ sung Vitamin D được khuyến cáo với 800 đến 1000 IU / ngày. Bệnh nhân bị thiếu vitamin D có thể cần liều cao hơn. Bổ sung vitamin D thường được cho dưới dạng cholecalciferol, dạng tự nhiên của vitamin D, mặc dù ergocalciferol, dạng tổng hợp có nguồn gốc thực vật, cũng chấp nhận được. Nồng độ 25-OH vitamin D3 nên được bảo đảm ≥ 30 ng / mL.

Bisphosphonat là thuốc lựa chọn đầu tay. Bằng cách ức chế sự hủy xương, bisphosphonat bảo vệ khối lượng xương và có thể làm giảm tỷ lệ gãy xương cột sống và xương đùi lên đến 50%. Chu chuyển xương giảm sau 3 tháng điều trị bisphosphonat và giảm nguy cơ gãy xương rõ rệt sớm sau 1 năm sau khi bắt đầu điều trị. Đo DEXA, được thực hiện liên tục để theo dõi đáp ứng điều trị, thường không cần làm lại trong khoảng <2 năm. Bisphosphonat có thể được uống hoặc truyền tĩnh mạch. Bisphosphonat bao gồm:

  • Alendronate (10 mg x 1 lần / ngày hoặc 70 mg uống 1 lần / tuần)

  • Risedronate (5 mg uống lần / ngày, 35 mg uống một lần / tuần, hoặc 150 mg uống một lần / tháng)

  • Zoledronic acid (5 mg tĩnh mạch một lần / năm)

  • Ibandronate uống (150 mg một lần / tháng) hoặc tĩnh mạch (3 mg mỗi 3 tháng)

Các bisphosphonat cần được uống trước ăn sáng, uống với một cốc nước đầy (250 mL), và bệnh nhân phải giữ tư thế thẳng trong ít nhất 30 phút (60 phút đối với ibandronat) và không ăn uống bất cứ thứ gì khác trong thời gian này. Những thuốc này an toàn khi dùng ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinine> 35 mL / phút. Bisphosphonat có thể gây kích ứng thực quản. Các bệnh lý thực quản làm giảm nhu động và các triệu chứng của đường tiêu hóa trên có là chống chỉ định tương đối dùng bisphosphonat đường uống. Bisphosphonat tĩnh mạch được chỉ định nếu một bệnh nhân không thể dung nạp được hoặc không tuân thủ bisphosphonat đường uống.

Hoại tử xương hàm có liên quan với việc sử dụng bisphosphonat; tuy nhiên, tình trạng này hiếm gặp ở những bệnh nhân dùng bisphosphonat đường uống. Các yếu tố nguy cơ bao gồm thủ thuật nha khoa xâm lấn, sử dụng bisphosphonat tĩnh mạch và ung thư. Lợi ích dùng thuốc làm giảm gãy xương liên quan đến loãng xương vượt trội hơn nguy cơ nhỏ này.

Việc sử dụng bisphosphonat lâu dài cũng có thể làm tăng nguy cơ gãy xương đùi không điển hình. Gãy ở vị trí dưới cổ xương đùi do chấn thương tối thiểu hoặc không có chấn thương có thể được báo trước bởi triệu chứng đau đùi trước vài tuần hoặc vài tháng. Gãy xương cũng có thể bị cả 2 bên. Để giảm thiểu tỷ lệ gãy xương, nên cân nhắc ngưng bisphosphonat (thời gian nghỉ bisphosphonat) sau khoảng

  • 3 đến 5 năm sử dụng ở bệnh nhân loãng xương (DXA scan) nhưng ít hoặc không có các yếu tố nguy cơ khác gây mất xương (3 năm cho acid zoledronic tĩnh mạch và 5 năm đối với bisphosphonates đường uống)

  • 5 đến 10 năm sử dụng ở bệnh nhân loãng xương (do DXA scan) và nhiều yếu tố nguy cơ

Bệnh nhân nghỉ dùng bisphosphonat nên được theo dõi chặt chẽ về gãy xương mới hoặc mất xương nhanh hơn trên mật độ xương đo bằng DXA. Trong quá trình điều trị bằng thuốc chống hủy xương, chẳng hạn như bisphosphonat, chu chuyển xương bị ức chế, bằng chứng bởi N-telopeptide liên kết chéo thấp (<40 nmol / L) hoặc C-telopeptide liên kết chéo . Những dấu ấn hủy xương này có thể vẫn còn được duy trì thấp trong thời gian ≥ 2 năm sau khi nghỉ thuốc.

Ở những bệnh nhân không được điều trị, sự gia tăng nồng độ các chất đánh dấu chu chuyển xương cho thấy có nguy cơ gãy xương tăng lên. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu nồng độ các marker chu chuyển xương có nên được dùng làm tiêu chí để bắt đầu hay kết thúc thời gian nghỉ thuốc. Quyết định bắt đầu hoặc kết thúc thời gian nghỉ thuốc tương đối phức tạp và phải tính đến các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân.

Calcitonin xịt mũi không nên sử dụng thường xuyên để điều trị loãng xương. Calcitonin có thể có tác dụng giảm đau trong thời gian ngắn sau khi gãy xương cấp tính, như gãy thân đốt sống, do tăng tiết endorphin nội sinh. Thuốc không cho thấy giảm tỷ lệ gãy xương.

Estrogen có thể duy trì mật độ xương và ngăn ngừa gãy xương. Dùng thuốc hiệu quả nhất nếu bắt đầu trong vòng 4 đến 6 năm sau mãn kinh, estrogen cũng có thể làm chậm sự mất xương và có thể làm giảm gãy xương ngay cả khi sử dụng muộn hơn. Sử dụng estrogen làm tăng nguy cơ huyết khối và ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú. Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung có thể giảm ở phụ nữ có tử cung bình thường bằng cách dùng progestin với estrogen (xem Liệu pháp hormone). Tuy nhiên, dùng phối hợp progestin và estrogen làm tăng nguy cơ ung thư vú, bệnh động mạch vành, đột quỵ, và bệnh đường mật. Do những nguy cơ trên và có các phương pháp điều trị loãng xương khác, các tác hại của estrogen nhiều hơn lợi ích điều trị loãng xương với hầu hết phụ nữ; khi cần phải điều trị bằng thuốc này, nên điều trị ngắn và cần theo dõi chặt chẽ.

Raloxifene là một thuốc điều biến chọn lọc thụ thể estrogen có thể thích hợp để điều trị loãng xương ở những phụ nữ không thể dùng bisphosphonat. Thuốc làm giảm tỷ lệ gãy xương đốt sống khoảng 50% nhưng không giảm tỷ lệ gãy cổ xương đùi. Raloxifen không kích thích tử cung và không có tác dụng đối kháng với estrogen trên vú. Thuốc đã cho thấy giảm nguy cơ ung thư vú xâm lấn. Raloxifene có liên quan đến tăng nguy cơ tắc mạch.

Denosumab là một kháng thể đơn dòng chống lại RANKL (chất hoạt hóa thụ thể kappa-B) và làm giảm hủy xương do tế bào hủy xương. Denosumab có thể hữu ích cho bệnh nhân không dung nạp hoặc không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác hoặc ở bệnh nhân suy thận. Denosumab chống chỉ định ở những bệnh nhân bị hạ kali máu và ở phụ nữ có thai.

PTH, kích thích sự hình thành xương mới, thường được chỉ định ở những bệnh nhân có những đặc điểm sau:

  • Không thể dung nạp thuốc chống hủy xương hoặc có chống chỉ định sử dụng

  • Không đáp ứng (ví dụ xuất hiện gãy mới hoặc giảm mật độ khoáng xương) với thuốc chống hủy xương, cũng như canxi, vitamin D và tập thể dục

  • Bị loãng xương trầm trọng (ví dụ, T score <-3.5) hoặc gãy nhiều thân đốt sống

  • Có loãng xương do glucocorticoid

Khi tiêm hàng ngày với liều trung bình là 20 mo, PTH tổng hợp (PTH 1-34, teriparatide) làm tăng khối lượng xương và giảm nguy cơ gãy xương. Bệnh nhân dùng teriparatid nên có độ thanh thải creatinin> 35 mL / phút.

Phòng gãy xương

Nhiều bệnh nhân cao tuổi có nguy cơ ngã vì khả năng phối hợp kém, thị lực yếu, yếu cơ, lú lẫn, và sử dụng các thuốc gây hạ huyết áp tư thế hoặc thay đổi cảm giác. Các bài tập tăng cường sức cơ có thể làm tăng ổn định. Giáo dục bệnh nhân về nguy cơ ngã và gãy xương, thay đổi môi trường nhà an toàn, và thực hiện các chương trình cá thể hóa để tăng sự ổn định về thể chất và khắc phục các yếu tố nguy cơ là rất quan trọng để ngăn ngừa gãy xương.

Điều trị đau và duy trì chức năng

Đau lưng cấp tính do gãy xương cột sống điều trị bằng hỗ trợ chỉnh hình, giảm đau và khi cơ co cứng thì dùng thêm liệu pháp nhiệtxoa bóp. Đau lưng mãn tính có thể giảm bằng quần áo chỉnh hình và tập thể dục để tăng cường cơ cạnh cột sống. Tránh nâng nặng có thể giúp giảm đau. Hạn chế tối thiểu nghỉ ngơi tại giường, khuyến khích duy trì thường xuyên các bài tập chịu trọng lượng cơ thể, được thiết kế cẩn thận.

Trong một số trường hợp, bơm xi măng thân đốt sống, tạo hình bằng bóng có thể làm giảm các cơn đau dữ dội do gãy xẹp lún mới thân đốt sống. Trong bơm xi măng tạo hình thân đốt sống, methyl methacrylate được tiêm vào đốt sống. Trong tạo hình bằng bóng, thân đốt sống đầu tiên được mở rộng bằng bóng sau đó tiêm methyl methacrylate. Các thủ thuật này có thể làm giảm biến dạng trong các thân đốt sống được tiêm, nhưng không làm giảm và thậm chí có thể làm tăng nguy cơ gãy xương ở các đốt sống lân cận. Các nguy cơ khác bao gồm gãy xương sườn, xi măng rò rỉ, phù phổi hoặc nhồi máu cơ tim. Cần có những nghiên cứu thêm cho chỉ định những thủ thuật này

Phòng ngừa

Mục tiêu phòng ngừa loãng xương là mục tiêu kép: bảo vệ khối lượng xương và ngăn ngừa gãy xương. Các biện pháp phòng ngừa được chỉ định cho các đối tượng:

  • Phụ nữ sau mãn kinh

  • Nam giới lớn tuổi

  • Bệnh nhân có thiểu xương

  • Bệnh nhân dùng glucocorticoid liều cao và / hoặc dài hạn

  • Bệnh nhân loãng xương

  • Bệnh nhân có nguyên nhân thứ phát gây mất xương

Các biện pháp phòng cho tất cả những bệnh nhân này bao gồm bổ sung canxi và vitamin D thích hợp, tập thể dục chịu trọng lượng, phòng ngã và các biện pháp khác để giảm nguy cơ (ví dụ như tránh hút thuốc và hạn chế rượu). Ngoài ra, điều trị bằng thuốc được chỉ định cho những bệnh nhân bị loãng xương hoặc thiểu xương nếu có nguy cơ gãy xương cao, như có chỉ số FRAX cao và bệnh nhân dùng glucocorticoid. Dùng thuốc thường tương tự như thuốc được dùng để điều trị loãng xương. Giáo dục bệnh nhân và cộng đồng về tầm quan trọng của sức khoẻ hệ xương vẫn là vấn đề vô cùng quan trọng.

Những điểm chính

  • Xương bị mất ở khoảng 0,3 đến 0,5% / năm sau tuổi 40, tăng sau khi mãn kinh ở phụ nữ khoảng 3-5% / năm trong khoảng 5 đến 7 năm.

  • Hơn 95% bệnh loãng xương ở phụ nữ và khoảng 80% ở nam giới là nguyên phát.

  • Nghi ngờ loãng xương ở những bệnh nhân bị gãy xương với lực rất nhỏ (gãy xương do loãng xương) ở cột sống, đầu dưới xương quay, cổ xương đùi hoặc mấu chuyển lớn.

  • Sử dụng DXA để đo mật độ xương ở phụ nữ ≥ 65 tuổi; phụ nữ từ tuổi mãn kinh đến 65 tuổi có các yếu tố nguy cơ (ví dụ như tiền sử gia đình loãng xương, chỉ số khối cơ thể thấp và sử dụng thuốc lá và / hoặc thuốc có nguy cơ cao gây mất xương (bao gồm glucocorticoids); nam giới và phụ nữ ở bất kỳ độ tuổi nào bị gãy xương do loãng xương; bằng chứng hình ảnh về mật độ xương giảm hoặc gãy xương không triệu chứng; và bệnh nhân có nguy cơ loãng xương thứ phát.

  • Xem xét làm xét nghiệm cho các bệnh nhân nguyên nhân mất xương thứ phát nếu Z score ≤ -2.0 hoặc nếu nghi ngờ lâm sàng là có nguyên nhân loãng xương thứ phát.

  • Để điều trị và phòng ngừa, bảo đảm đưa vào đủ canxi và vitamin D , sử dụng thực phẩm chức năng khi cần thiết và khắc phục các yếu tố nguy cơ để bảo vệ khối lượng xương (ví dụ như tập thể dục và giảm thiểu sử dụng caffeine, rượu và thuốc lá).

  • Điều trị hầu hết bệnh nhân bằng thuốc ức chế hủy xương (ví dụ: bisphosphonat, điều hòa chọn lọc thụ thể estrogen ức chế RANKL, thuốc được sử dụng để điều trị thay thế hormon hoặc một thuốc tăng chuyển hóa (PTH).

Thêm thông tin

Các loại thuốc được đề cập ở bài báo này

Tên thuốc Chọn biệt dược
PROVERA
No US brand name
ZOMETA
DRISDOL
AVANDIA
FORTEO
ACTOS
ACHROMYCIN V
BONIVA
FOSAMAX
ACTONEL
EVISTA
ROCALTROL
MIACALCIN
DILANTIN
PROLIA
PANHEPRIN
Nhấp ở đây để Hướng dẫn bệnh nhân
LƯU Ý: Đây là phiên bản dành cho chuyên gia. NGƯỜI TIÊU DÙNG: Nhấp ở đây để biết phiên bản dành cho người tiêu dùng
Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG